CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc- HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2026 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo
Điều 28. ; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số
85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về tố tụng đã đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Về tình cảm: xét thấy chị Y và anh M đều xác định không thể tiếp tục chung sống, đều nhất trí ly hôn nên cho chị Y và anh M được ly hôn. Về con chung: chị Y, anh M đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung tuy nhiên do anh M hiện đang phải đi chấp hành án phạt tù nên giao con chung cho chị Y được quyền nuôi dưỡng và anh M không phải cấp dưỡng. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN [1] Về tố tụng: vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội và khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Y, anh M có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Y, anh M theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về tình cảm: trong quá trình giải quyết vụ án chị Y và anh M đều xác định không còn tình cảm vợ chồng và đồng ý ly hôn. Xét lời trình bày của chị Y, anh M, xác minh tại địa phương thì thấy rằng hiện nay chị Y và anh M không còn quan tâm đến nhau nữa, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh M đã ở mức độ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cho chị Y và anh M được ly hôn là phù hợp. [3] Về con chung: chị Y và anh M đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, tuy nhiên hiện nay do anh M đang phải đi chấp hành án phạt tù nên anh M không đủ điều kiện và khả năng để nuôi con, do đó giao cho chị Y được quyền nuôi dưỡng con chung và anh M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. 3 [4] Về tài sản chung: chị Y, anh M không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đề cập. [5] Về án phí: chị Y phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH Căn cứ: khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2
thấy không còn tình cảm với anh M, nên đề nghị được ly hôn anh M.
Về con chung: vợ chồng chị Y có 01 con chung là cháu Lê Gia H, sinh ngày
22/12/2020, chị Y đề nghị được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh M
phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
2
Về tài sản chung: chị Y không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn M có lời khai trình bày: về điều kiện hoàn cảnh kết hôn
như chị Y trình bày là đúng. Vợ chồng cũng không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ do anh
M dính vào ma túy và bị đi tù nên tình cảm vợ chồng nhạt dần, chị Y không còn
quan tâm đến anh M nữa. Nay chị Y xin ly hôn thì anh M thấy cũng không còn tình
cảm vợ chồng nên đồng ý ly hôn.
Về con chung: anh M và chị Y có 01 con chung như chị Y đã trình bày, nếu
ly hôn anh M đề nghị được nuôi dưỡng con chung và anh M sẽ nhờ mẹ và chị gái ở
nhà chăm sóc con hộ trong thời gian anh M phải đi chấp hành án phạt tù, anh M
cũng không yêu cầu chị Y phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: anh M không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà có quan điểm: đề nghị áp dụng khoản 1
Điều 1. Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 56, 81,
82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Y. Cho chị Trần Thị Y được ly hôn anh Lê Văn M. Về con chung: giao cho chị Trần Thị Y được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lê Gia H, sinh ngày 22/12/2020 đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Căn cứ: khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí. Buộc chị Trần Thị Y phải nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị Y đã nộp theo biên lai số 0000342 ngày 23/01/2026 của THADS tỉnh Q. Căn cứ Điều 271, 273 – Bộ luật tố tụng dân sự. Báo cho chị Y, anh M vắng mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./. Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND khu vực 4; - THADS tỉnh Quảng Ninh; - UBND xã Hoành Mô; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hải
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.