CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 12 năm 2025 và lời khai tại Tòa án,
2
vợ chồng ổn định. Tuy nhiên anh B tiếp tục xuất cảnh lao động tại nước ngoài
không quan tâm đến cuộc sống vợ con, bỏ mặc nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là
do vợ chồng có bất đồng về nhiều mặt như kinh tế, quan điểm, hướng nuôi dậy con
chung, đặc biệt do sống xa nhau không có sự liên lạc thường xuyên nên tình cảm
ngày mai một. Nay chị xác định mục đích hôn nhân giữa chị và anh B không đạt
được, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Tòa
án giải quyết ly hôn giữa chị và anh B. Do điều kiện công việc của chị D, chị đề
nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Về con chung: Chị D và anh B có hai con chung là cháu Nghiêm Thùy L,
sinh ngày 20/10/2009 và cháu Nghiêm Ngọc Á, sinh ngày 08/5/2013. Hiện nay các
con đang ở với chị D. Khi ly hôn chị D đề nghị Tòa án giao cả hai cháu cho chị
trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị D không yêu cầu anh B
cấp dưỡng cho con.
Về Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung, công sức đóng góp: Không
có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nghiêm Xuân B vắng mặt, chị
Lê Thị D không cung cấp được địa chỉ của anh B tại Đài Loan. Tòa án đã yêu cầu
bố đẻ của anh B cung cấp địa chỉ của anh B và thông báo cho anh B biết việc chị D
xin ly hôn anh B nhưng gia đình không thực hiện được vì không biết địa mà chỉ
biết hiện nay B đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Tại Công văn số 456/XNC
ngày 13/02/2026 của phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Ninh Bình cung
cấp thông tin: Anh Nghiêm Xuân B, sinh ngày 07/8/1986, nơi thường trú trước khi
xuất cảnh: Thôn Đ, xã T, tỉnh Ninh Bình xuất cảnh lần gần nhất vào ngày
15/11/2025 sang Đài Loan (Trung Quốc), qua sân bay Quốc tế N, thành phố Hà
Nội, hiện chưa có thông tin nhận cảnh về Việt Nam.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố
tụng dân sự của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định pháp luật và đề nghị
Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.