CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúchoãn phiên tòa số 122/2026/QĐST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
Điều 39. Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Các đương sự đều xin vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các bên đương sự. [3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy: Căn cứ vào Biên nhận nợ ngày 15/11/2024 cùng lời khai thừa nhận của ông H và bà N1, Hội đồng có cơ sở xác định: Hiện vợ chồng ông H, bà N1 còn nợ bà Đ số tiền mua vật liệu xây dựng là 50.000.000 đồng. Nay ông bà xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng vào ngày 01 dương lịch, bắt đầu thực hiện từ ngày 01/5/2026 cho đến 3 khi trả hết nợ; nếu ông bà không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đã hứa thì bà Đ được quyền yêu cầu thi hành án buộc ông bà phải trả toàn bộ số nợ còn lại dù chưa đến hạn thanh toán và bà Đ cũng đồng ý với yêu cầu trả dần nợ của phía bị đơn, điều này cũng phù hợp với quy định tại Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí là 2.500.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban THvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, bị đơn là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban THvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào: - Các Điều 280, 357, 430, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015; - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Điều 2 Luật Người cao tuổi. - Điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban THvụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Đ.
Buộc ông Trần Văn H và bà Châu Thị Ánh N1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Đ số tiền mua vật liệu xây dựng còn nợ là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), mỗi tháng trả 5.000.000 đồng vào ngày 01 dương lịch, bắt đầu thực hiện từ ngày 01/5/2026 cho đến khi trả hết nợ. Nếu ông H và bà N1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như nêu trên thì bà Đ được quyền yêu cầu thi hành án buộc ông H và bà N1 phải trả toàn bộ số nợ còn lại dù chưa đến hạn thanh toán. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
2
Ngày 15/11/2024, vợ chồng ông H và bà N1 còn nợ bà số tiền mua vật liệu xây
dựng là 50.000.000 đồng. Hai bên làm hợp đồng mỗi tháng ông H và bà N1 trả
5.000.000 đồng, tức là trả trong thời hạn 10 tháng sẽ hết nợ. Tuy nhiên, đến nay ông
H và bà N1 vẫn không thực hiện việc trả nợ dù bà đã đến đòi nợ nhiều lần. Nay bà
yêu cầu vợ chồng ông H và bà N1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền còn nợ và bà
đồng ý cho trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng, bắt đầu thực hiện từ ngày 01/5/2026
cho đến khi trả hết nợ; nếu ông H và bà N1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như
đã hứa thì bà được quyền yêu cầu thi hành án buộc ông H và bà N1 phải trả toàn bộ số
nợ còn lại dù chưa đến hạn.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Văn H và bà Châu Thị Ánh
N1 thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông bà chung sống có đăng ký kết hôn. Trước đây, ông bà có mua vật
liệu xây dựng của vợ chồng bà Đ để xây nhà cách nay khoảng mười mấy năm và tính
đến ngày 15/11/2024 thì bà Đ cho biết là ông bà còn nợ lại số tiền 50.000.000 đồng.
Khi đó, bà Đ có cho ông bà trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng nhưng do con trai của
ông bà bị bệnh, cần tiền chữa trị nên đến nay ông bà vẫn chưa trả được nợ cho bà Đ.
Nay ông bà đồng ý trả cho bà Đ số nợ này nhưng xin trả dần mỗi tháng 5.000.000
đồng, bắt đầu thực hiện từ ngày 01/5/2026 cho đến khi trả hết nợ; nếu ông bà không
thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ như đã hứa thì bà Đ được quyền yêu cầu thi hành án
buộc ông bà phải trả toàn bộ số nợ còn lại dù chưa đến hạn.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông
Tăng Văn N trình bày: Ông là chồng bà Đ, ông thống nhất với lời trình bày và yêu
cầu khởi kiện của bà Đ. Ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp “Hợp đồng mua
bán tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng
Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1
Điều 468. Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành
án. 4
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông H và bà N1 được miễn nộp án phí (do ông bà
là người cao tuổi). Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định. Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND KV.2 – Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Thiền 5
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.