CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcHNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2026, về việc “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con”. Theo
2
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2022, bà G và ông T có quen biết nhau và đi
đến hôn nhân, hai người có tổ chức đám cưới vào năm 2022 và có đăng ký kết hôn
được Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là phường T, tỉnh Vĩnh
Long) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 70 ngày 20/7/2022.
Sau khi kết hôn thì bà G và ông T sinh sống tại nhà của gia đình ông T. Thời
gian đầu sống hạnh phúc, đến đầu năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn bất đồng
ý kiến, vợ chồng thường xuyên cãi nhau và không tìm được tiếng nói chung trong
mối quan hệ vợ chồng. Đến tháng 8/2023 bà G đã về nhà mẹ ruột một thời gian, sau
đó đi làm ở Đồng Nai, ông T và bà G đã ly thân năm 2023 cho đến nay. Nay bà G
nhận thấy không còn tình cảm với ông T, nên bà Nguyễn Thị Hồng G yêu cầu ly hôn
với ông Nguyễn Tấn T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Cát T1, sinh ngày
11/12/2022. Hiện nay con chung đang sống cùng với ông T, trong thời gian ông T
nuôi dưỡng bà G thỉnh thoảng về thăm con. Do bà G đi làm xa không khả năng chăm
sóc nuôi dưỡng con, nên sau khi ly hôn bà G đồng ý giao con cho ông T chăm sóc,
nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà G không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà G không yêu cầu giải quyết.
Ngày 28/4/2026, bà Nguyễn Thị Hồng G có đơn xin giải quyết vắng mặt. Lý
do bận đi làm xa không tham dự phiên tòa.
Tòa án đã gởi thông báo thụ lý vụ án, thông báo kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải triệu tập ông Nguyễn Tấn T đến Tòa án mở phiên họp công khai
chứng cứ và hòa giải, ông T không có ở nhà cha mẹ có nhận thay, nên Tòa án đã
thông báo niêm yết công khai theo quy định pháp luật. Đến ngày làm việc, ông T
không đến và không gửi bản khai ý kiến về việc bà Nguyễn Thị Hồng G yêu cầu ly
hôn với ông, do bị đơn đã triệu tập 02 lần không đến, căn cứ Điều 220, 227 Bộ luật
tố tụng dân sự Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn vắng mặt, do có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần 2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.