CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúchoãn phiên toà số 47/2026/QĐST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2026, giữa:
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị C: Ông Đỗ Hoàng P, sinh
năm 1994 và bà Huỳnh Ngọc T4, sinh năm 2005. Cùng cư trú: Số E, quốc lộ I, ấp
V, xã C, tỉnh An Giang. Theo giấy uỷ quyền ngày 15/5/2025 (ông P có mặt).
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Phạm Văn B, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp B, xã C, tỉnh An Giang.
4.2. Ông La Huỳnh Quế H, sinh năm 1953 (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố Đà Nẵng.
4.3. Ông Trương Công T5, sinh năm 1950 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp C, xã C, tỉnh An Giang.
4.4. Lê Văn T6, sinh năm 1952 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Nơi cư trú: Số H, tổ A, ấp B, xã B, tỉnh An Giang.
4.5. Trần Văn Â, sinh năm 1960 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, tỉnh An Giang.
4.6. Ông Trần Thanh L1, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị T
trình bày: Bà là em ruột của ông N. Năm 1979 bà có giao cho ông N một khoản
tiền (do thời gian đã lâu nên bà không còn nhớ rõ số tiền cụ thể) để nhờ ông N
đứng ra mua thay bà 06 công đất ở mương H, đường L, ấp B, xã B, tỉnh An Giang.
Đến năm 1985 ông N đã thông báo cho bà về việc sẽ bán lại 06 công đất nêu trên
và mua một phần đất khác gần nơi cư trú của ông N và nay là khu vườn do ông N
đang quản lý, sử dụng để trả đất cho bà. Tuy nhiên, ông N đã không thực hiện
đúng nội dung đã thỏa thuận.
Năm 2018, bà yêu cầu ông N trả lại đất. Ông N đã lập tờ cam kết ngày
12/4/2018. Theo đó, ông N đồng ý trả trước cho bà 02 công đất là đất nhà của ông
N đang quản lý sử dụng, tọa lạc tại ấp B, xã B, tỉnh An Giang nhưng ông N không
nêu cụ thể vị trí, ranh giới, tứ cận của phần đất sẽ trả cho bà. Do bà đã nhiều lần
liên hệ yêu cầu ông N thực hiện việc tách thửa và chuyển quyền sử dụng diện tích
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.