CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúchoãn phiên toà số 49/2026/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 04 năm 2026, giữa các
2
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H kết hôn ngày 15/3/2019 tại UBND phường
C, thành phố C, tỉnh Hải Dương (nay là phường T, thành phố Hải Phòng). Trước khi
cưới, anh chị được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn, được hai bên gia đình
tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Vợ chồng chung sống hạnh phúc
được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên thường xuyên cãi vã,
chồng thiếu tôn trọng chị, không quan tâm gì đến vợ con, không có tiếng nói chung.
Vợ chồng ly thân từ tháng 4 năm 2023, chị chuyển ra ở trọ tại TDP C, phường T, thành
phố Hải Phòng. Đến nay, chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn
nhân không đạt được, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Chị N và anh H có 01 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày
25/9/2020. Hiện nay, cháu Q đang ở cùng anh H và ông bà nội. Nay ly hôn, chị và
anh H thỏa thuận để anh H tiếp tục nuôi dưỡng con chung và anh H không yêu cầu
chị cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh H tuy ít về, nhưng vẫn thường xuyên gửi tiền về cho ông bà để chăm sóc
nuôi dưỡng con chung. Chị không biết hiện nay anh H đang ở đâu, lúc thì bảo Lạng
Sơn, lúc thì bảo Trung Quốc. Trong thời gian ly thân, do chị bận công việc đi làm 12
tiếng 1 ngày, lại không có ngày nghỉ, nên chị chỉ có thể chăm sóc con vào buổi tối.
Việc nuôi dưỡng con chung khi ly thân có được đảm bảo vì bố mẹ chồng chăm sóc
cháu rất tốt. Hiện nay, chị làm việc tại Quảng Ninh, nên không có điều kiện chăm sóc
con chung. Nếu giao con chung cho chị nuôi dưỡng thì sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt,
học tập của cháu. Bố mẹ chị ở xa (ở T, Lạng Sơn) đang giúp chăm sóc con riêng của
chị nên không có điều kiện để chăm sóc thêm nữa. Chị đồng ý để bố mẹ chồng chị
hỗ trợ anh H trong việc trông nom chăm sóc con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh H được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ văn bản nhưng không đến
Tòa án để giải quyết, không trình bày quan điểm giải quyết vụ án. Thông qua bố mẹ
đẻ anh H có quan điểm:
Bà Nguyễn Thị B trình bày: Ông Nguyễn Văn C là chồng bà, là bố mẹ đẻ của
anh Nguyễn Văn H. Anh H và chị N có đăng ký kết hôn vào năm 2019 và được hai
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.