CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcHNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo
thuẩn cho đến nay, do anh V không lo làm ăn mà chỉ biết uống rượu, về nhà thì
cự cãi với chị P và đập phá nhà cửa, chị đã nhiều lần cho anh V cơ hội nhưng
anh V vẫn không thay đổi, chị không thể nào tiếp tục sống chung với anh V
được nữa nên chị P yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.
- Về con chung: Có một con tên Trương Ngọc H, sinh ngày 12/6/2012.
Hiện con đang sống với chị P, chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu
cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị P khai không có, không yêu cầu giải
quyết.
2
Bị đơn anh Lưu Quang V vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Trương Thị Nhã P và anh Lưu Quang
V được xác lập trên cơ sở tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn, nên xem
đây là hôn nhân không hợp pháp, do vậy tại phiên tòa hôm nay, chị P xin ly hôn,
nhưng vẫn không được chấp nhận, mà căn cứ vào khoản 1 Điều 14 của Luật
Hôn nhân và Gia đình, căn cứ vào Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-
TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 không công nhận chị
Trương Thị Nhã P và anh Lưu Quang V là vợ chồng.
[2] Về con chung: Có một con tên Trương Ngọc H, sinh ngày 12/6/2012,
chị P yêu cầu tiếp tục xin được nuôi cháu H, Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay
cháu H còn nhỏ và đang sống ổn định với chị P, nên xét giao cháu H cho chị P
tiếp tục nuôi dạy là hợp lý. Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, chị P không yêu
cầu anh V cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị P khai không có, nên Hội đồng xét
xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Chị P phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, được
trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, chị P đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 233
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.