Số: 378/2025/Q
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúctòa số: 04/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2026 giữa:
2
thương con mà bà K cố gắng chịu đựng gần 20 năm nay, bà sống với ông T rất khổ và
ông T không thay đổi tính tình nên bà không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng được nữa
nên bà K đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống và ông T đi làm trên S hai người ly thân từ
tháng 01/2024 đến nay, bà K xét thấy không còn tình cảm với ông T nữa nên bà quyết
định ly hôn với ông T.
Bà K khai trong quá trình sống chung với ông T có một người con chung tên Lâm
Tâm N, sinh ngày 21/12/2004; con đã lớn trưởng thành trên 18 tuổi và đã đi làm có cuộc
sống riêng. Về tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận. Về nợ chung vợ chồng không có
nợ chung.
Tại phiên tòa, bà Lâm Thị K yêu cầu Tòa án giải quyết: Về hôn nhân bà K yêu
cầu ly hôn với ông Lâm Hớn T. Về con chung có một người con tên Lâm Tâm N, sinh
ngày 21/12/2004 đã trưởng thành trên 18 tuổi nên bà K không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Về tài sản chung bà K và ông T tự thỏa thuận nên bà không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Về nợ chung bà K xác định là không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà K không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
* Đối với bị đơn ông Lâm Hớn T không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết
vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật
nhưng ông T không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án
không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm
quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu
thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện
kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn
chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã
được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là
không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 53 Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên về hôn nhân không công nhận quan hệ giữa bà
Lâm Thị K và ông Lâm Hớn T là quan hệ vợ chồng. Về con chung, về tài sản chung và
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.