khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh là đối tượng khởi kiện vụ án
hành chính quy định tại Điều 28 của Luật TTHC
1. Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án hành chính là văn bả n được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình
thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ
quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban
hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối
với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý
hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền
của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp
hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của
cá nhân, cơ quan, tổ chức đó), bao gồm:
a) Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải
quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính;
-- 1 of 20 --
106 CÔNG BÁO/Số 455 + 456/Ngày 16-8-2011
b) Quyết định hành chính được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội dung sửa
đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính được
hướng dẫn tại điểm a khoản này.
2. Hành vi hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác
hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực
hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Việc xác định hành vi hành
chính khi nào là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, khi nào
là của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác và khi nào là không thực hiện nhiệm vụ, công vụ phải căn cứ vào quy định của
pháp luật về thẩm quyền, thời hạn thực hiện đối với nhiệm vụ, công vụ đó và phân
biệt như sau:
a) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cụ thể là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, nhưng do người
trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác đó thực hiện theo sự phân
công hoặc ủy quyền, ủy nhiệm thì hành vi đó là hành vi hành chính của cơ quan hành
chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác mà không phải là hành vi hành chính của
người đã thực hiện hành vi hành chính đó;
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 126 của Luật đất đai thì hồ sơ chuyển đổi
quyền sử dụng đất nộp tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Ông Nguyễn
Văn A đã nộp hồ sơ xin chuyển đổi quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân
xã X theo đúng quy định, nhưng bà Trần Thị C là cán bộ nhận hồ sơ của Ủy ban
nhân dân xã X đã trả lại hồ sơ cho ông A và không nêu lý do của việc trả lại hồ sơ
đó. Trong trường hợp này, việc trả lại hồ sơ cho ông A là hành vi hành chính của Ủy
ban nhân dân xã X mà không phải là hành vi hành chính của bà Trần Thị C.
b) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ
thể là của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác thì việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể đó là hành vi hành chính của người
có thẩm quyền, không phụ thuộc vào việc họ trực tiếp thực hiện hay phân công, ủy
quyền, ủy nhiệm cho người khác thực hiện;
Ví dụ: Theo quy định của pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H là người
có thẩm quyền tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông D, nhưng đã ủy nhiệm cho Phó Chủ tịch
Ủy ban nhân dân xã H trực tiếp tổ chức việc cưỡng chế. Trong trường hợp này, việc
cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông D là hành vi
hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H mà không phải là hành vi hành chính
của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H.
c) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ
thể là của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác, nhưng hết thời hạn
theo quy định của pháp luật mà cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác
không thực hiện nhiệm vụ, công vụ thì hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ
-- 2 of 20 --
CÔNG BÁO/Số 455 + 456/Ngày 16-8-2011 107
đó là hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác,
không phụ thuộc vào việc nhiệm vụ, công vụ đó được phân công, ủy quyền, ủy
nhiệm cho người cụ thể nào trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức
khác đó thực hiện;
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 7 của
Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29-8-2006
của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở
Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh cho các doanh nghiệp được thành lập trong địa giới hành chính tỉnh. Doanh
nghiệp N đã nộp đầy đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ, nhưng quá thời hạn mà
pháp luật quy định, Phòng đăng ký kinh doanh không cấp Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh cho doanh nghiệp N. Trong trường hợp này, việc không cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp N là hành vi hành chính của
Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A.
d) Trường hợp theo quy định của pháp luật, việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ
cụ thể là của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ
chức khác, nhưng hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà người có thẩm quyền
trong cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác không thực hiện nhiệm
vụ, công vụ thì hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó là hành vi hành chính
của người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào việc họ đã phân công, ủy quyền, ủy
nhiệm cho người khác thực hiện.
Ví dụ: Theo quy định tại Điều 30 của Luật Cư trú thì trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, Trưởng Công an xã, phường, thị trấn
phải cấp sổ tạm trú cho hộ gia đình hoặc cá nhân đề nghị. Bà X đã nộp đủ giấy tờ
theo quy định đề nghị Trưởng Công an xã N cấp sổ tạm trú, nhưng quá thời hạn 03
ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ mà Trưởng Công an xã N không cấp sổ
tạm trú cho bà X. Trong trường hợp này, việc không cấp sổ tạm trú cho bà X là hành
vi hành chính của Trưởng Công an xã N.
3. Quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thuộc
đối tượng khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính là quyết định của
Hội đồng cạnh tranh, của Bộ trưởng Bộ Công thương khi giải quyết khiếu nại quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định tại mục 7 Chương V của Luật Cạnh
tranh, bao gồm:
a) Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh đối với quyết định
của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên quan đến
hành vi hạn chế cạnh tranh;
b) Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương đối với quyết
định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh khi xử lý vụ việc cạnh tranh liên
quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
-- 3 of 20 --
108 CÔNG BÁO/Số 455 + 456/Ngày 16-8-2011