# Văn bản
---
NỘI DUNG TRẢ LỜI CÔNG KHAI LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CHƯA ĐƯỢC CÁC BỘ, NGÀNH THỐNG NHẤT NÊU
TẠI PHỤ LỤC II BÁO CÁO SỐ 207/BC-BTP NGÀY 04/4/2026 CỦA BỘ TƯ PHÁP
STT Điều, khoản, điểm, tên
văn bản đề xuất xử lý
Nội dung phản ánh,
kiến nghị
Phương án xử lý
được đề xuất
(nếu có)
Ghi chú Lý do không nhất trí
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
1. Điều 11
Nghị định
số 111/2015/NĐ-CP
ngày 03/11/2015 của
Chính phủ về phát
triển công nghiệp hỗ
trợ (được sửa đổi, bổ
sung tại
Nghị định số
205/2025/NĐ-CP):
nội dung kiến nghị:
Đã có quy định tương
đối rõ về khái niệm
“công nghiệp hỗ trợ”
cũng như các hoạt
động phát triển công
nghiệp hỗ trợ, song
trên thực tế việc xác
định và chứng minh
doanh nghiệp thuộc
lĩnh vực này vẫn còn
nhiều vướng mắc, gây
khó khăn trong áp
dụng, thực hiện pháp
luật.
Các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ hiện vẫn
gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận
các chính sách ưu đãi của Nhà nước.
Mặc dù
Nghị định số 111/2015/NĐ-CP
(được sửa đổi, bổ sung tại
Nghị định số
205/2025/NĐ-CP) đã quy định tương
đối rõ về khái niệm “công nghiệp hỗ
trợ” cũng như các hoạt động phát triển
công nghiệp hỗ trợ, song trên thực tế
việc xác định và chứng minh doanh
nghiệp thuộc lĩnh vực này vẫn còn
nhiều vướng mắc.
Nhiều doanh nghiệp sản xuất linh kiện,
phụ tùng tham gia sâu vào chuỗi cung
ứng toàn cầu, thậm chí có giá trị xuất
khẩu hàng phụ trợ lên tới hàng chục
triệu USD mỗi năm, nhưng khi làm hồ
sơ xin hưởng các chính sách ưu đãi lại
gặp khó khăn trong việc chứng minh sản
phẩm của mình thuộc danh mục sản
phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát
triển hoặc chứng minh doanh nghiệp đáp
ứng tiêu chí của doanh nghiệp công
nghiệp hỗ trợ. Điều này dẫn đến tình
- Bộ, ngành có
trách nhiệm chủ
trì, phối hợp
nghiên cứu xử lý,
tham mưu xử lý:
Bộ Công Thương
- Cơ quan kiến
nghị/phản ánh: Bộ
Tư pháp tổng hợp
từ các nguồn
thông tin
Nghị định số 205/2025/NĐ-CP ngày
14/7/2025 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ
sung một số điều của
Nghị định số
111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2025 của Chính
phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ là văn bản
quy phạm pháp luật chuyên biệt nhằm đẩy
mạnh các cơ chế, chinh sách phát triển công
nghiệp hỗ trợ, chứ không phải là Nghị định quy
định chuyên biệt về thúc đẩy khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Nghị định đã quy định cụ thể định nghĩa về
ngành công nghiệp hỗ trợ tại điểm a khoản 1
Điều 1 “Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công
nghiệp sản xuất, gia công nguyên liệu, phụ liệu,
vật liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho
sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh” và các cơ chế
chính sách hỗ trợ (xúc tiến thu hút đầu tư, tư
vấn cải tiến, phát triển nguồn nhân lực, cơ sở
dữ liệu, ... và ưu đãi (miễn, giảm thuế, tiền thuê
đất mặt nước, ... ưu đãi khác theo quy định của
pháp luật hiện hành).
Để tháo gỡ khó khăn trong việc tiếp cận
chính sách, Nghị định đã quy định rõ ràng về
đối tượng, điều kiện và trình tự thủ tục cấp
Giấy xác nhận ưu đãi tại khoản 9 Điều 1 (sửa
-- 1 of 5 --
2
STT Điều, khoản, điểm, tên
văn bản đề xuất xử lý
Nội dung phản ánh,
kiến nghị
Phương án xử lý
được đề xuất
(nếu có)
Ghi chú Lý do không nhất trí
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
trạng doanh nghiệp khó tiếp cận các
chính sách hỗ trợ về tín dụng, thuế, đất
đai hoặc chương trình phát triển công
nghiệp hỗ trợ, làm giảm hiệu quả thực
thi của chính sách.
đổi Điều 11) cùng các Mẫu biểu và Danh mục
sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển
kèm theo. Các Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ
thuộc Dự án được ưu đãi cần phải có hàm
lượng công nghệ, trải qua các công đoạn sản
xuất phù hợp với thiết kế của dây chuyền công
nghệ và quy trình sản xuất đảm bảo có sự biến
đổi vật lý hoặc cơ học từ nguyên liệu, vật liệu,
các chất liệu khác nhau để tạo thành sản phẩm
(chứ không phải lắp ráp, gia công đơn thuần)
và Dự án cần có ít nhất 01 doanh nghiệp nhỏ và
vừa là doanh nghiệp sản xuất và cung ứng
nguyên liệu, vật liệu hoặc linh kiện, phụ tùng
chính để phục vụ sản xuất sản phẩm công
nghiệp hỗ trợ đề nghị xác nhận ưu đãi.
Thực tế triển khai cho thấy hệ thống chính sách
đang vận hành hiệu quả và minh bạch: từ năm
2016 đến nay, Bộ Công Thương đã ban hành
hơn 300 Giấy xác nhận ưu đãi, góp phần cải
thiện rõ rệt năng lực sản xuất CNHT trong
nước. Việc tiếp cận chính sách hiện nay hiện
khá thuận lợi thông qua hệ thống dịch vụ công
toàn trình, kết hợp với các chương trình phổ
biến pháp luật sâu rộng đến từng địa phương và
hiệp hội, đảm bảo mọi doanh nghiệp đủ điều
kiện đều có thể thụ hưởng kịp thời các nguồn
lực hỗ trợ của Nhà nước
2. Khoản 19 Điều 11
Thông tư
Khoản 19 Điều 11
Thông tư
60/2025/TT-BCT quy định
Sửa đổi
Thông tư
- Bộ, ngành có
trách nhiệm chủ
Quy định tại khoản 19 Điều 11
Thông tư số
60/2025/TT-BCT không tạo gánh nặng chi phí
-- 2 of 5 --
3
STT Điều, khoản, điểm, tên
văn bản đề xuất xử lý
Nội dung phản ánh,
kiến nghị
Phương án xử lý
được đề xuất
(nếu có)
Ghi chú Lý do không nhất trí
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
60/2025/TT-BCT
ngày 02/12/2025 của
Bộ trưởng Bộ Công
Thương quy định về
thực hiện giá bán điện
Điều 11. Giá bán lẻ điện cho mục
đích kinh doanh khác
Giá bán lẻ điện cho mục đích kinh
doanh khác áp dụng đối với bên mua
điện sử dụng điện cho mục đích kinh
doanh, dịch vụ bao gồm:
19. Cơ sở cung cấp dịch vụ xử lý,
lưu trữ và quản lý dữ liệu tập trung;
=> Giá bán điện đối với Trung tâm
dữ liệu được áp dụng theo giá bán lẻ
điện cho mục đích kinh doanh
Trước khi có
Thông tư số
60/2025/TT-BCT, giá bán điện đối với
Trung tâm dữ liệu được tính là giá điện
sản xuất (áp dụng theo quy định tại
khoản 9 Điều 7
Thông tư số
16/2014/TT-BCT)
⇨ Việc điều chỉnh tăng giá bán
điện từ giá sản xuất sang giá điện kinh
doanh làm tăng hơn 50% chi phí cho
các doanh nghiệp kinh doanh trung tâm
dự liệu. Điều này chưa phù hợp với
định hướng, chủ chương của Nghị quyết
57: “Có cơ chế, chính sách hỗ trợ các
doanh nghiệp trong đầu tư, xây dựng
trung tâm dữ liệu, điện toán đám
mây…”
60/2025/TT-
BTC theo
hướng bỏ
khoản 19 Điều
11.
trì, phối hợp
nghiên cứu xử lý,
tham mưu xử lý:
Bộ Công Thương
- Cơ quan kiến
nghị/phản ánh:
Tập đoàn Viettel
tuân thủ và không gây hạn chế sự phát triển
KHCN, ĐMST, CĐS.
Để đáp ứng thực tiễn, căn cứ ý kiến của một
số doanh nghiệp, hiệp hội về việc cần quy định
cụ thể giá bán lẻ điện áp dụng cho trung tâm dữ
liệu (TTDL), Bộ Công Thương đã bổ sung quy
định về việc áp giá cho “Cơ sở cung cấp dịch
vụ xử lý, lưu trữ và quản lý dữ liệu tập trung”
tại khoản 19 Điều 11
Thông tư số 60/2025/TT-
BCT. Quy định này được xây dựng trên cơ sở
quy định tại Luật Viễn thông 2023 và
Quyết
định số 36/2025/QĐ-TTg ngày 29/9/2025 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định Hệ
thống ngành kinh tế Việt Nam, theo đó TTDL
của một doanh nghiệp là cơ sở vật chất lưu trữ
và xử lý dữ liệu số cho chính doanh nghiệp đó
để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp hoặc cũng có thể cung cấp dịch
vụ cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân
khác.
Như vậy, tại khoản 19 Điều 11
Thông tư số
60/2025/TT-BCT quy định “Cơ sở cung cấp
dịch vụ xử lý, lưu trữ và quản lý dữ liệu tập
trung” thì áp dụng giá bán lẻ điện theo mục
đích kinh doanh; nếu TTDL phục vụ mục đích
của chính doanh nghiệp đó mà không cung cấp
dịch vụ xử lý, lưu trữ và quản lý dữ liệu cho
-- 3 of 5 --
4
STT Điều, khoản, điểm, tên
văn bản đề xuất xử lý
Nội dung phản ánh,
kiến nghị
Phương án xử lý
được đề xuất
(nếu có)
Ghi chú Lý do không nhất trí
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
Quy định của Thông tư số 60 cũng
chưa phù hợp với Luật Viễn thông và
Luật Chuyển đổi số. Cụ thể:
Theo khoản 23 Điều 3 Luật Viễn
thông quy định: “Trung tâm dữ liệu là
công trình viễn thông, bao gồm nhà,
trạm, hệ thống cáp, hệ thống máy tính
và hệ thống điện cùng các thiết bị phụ
trợ được lắp đặt vào đó để xử lý, lưu trữ
và quản lý dữ liệu của một hoặc nhiều
tổ chức, cá nhân”
Và khoản 9 Điều 3 Luật Viễn thông
cũng quy định dịch vụ trung tâm dữ liệu
là dịch vụ viễn thông.
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Chuyển
đổi số quy định trung tâm dự liệu là một
bộ phận của hạ tầng số. Khoản 1 Điều
23 Luật Chuyển đổi số cũng quy định:
“Cơ quan quản lý nhà nước về điện lực
chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình
cấp có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh,
bổ sung quy hoạch phát triển điện lực
quốc gia để bảo đảm đáp ứng nguồn
điện xanh, sạch, bảo đảm dự phòng cho
các trung tâm dữ liệu; chỉ đạo các đơn vị
điện lực ưu tiên bố trí nguồn điện ổn
định, chất lượng cao tại các khu vực
bên thứ ba thì sẽ áp dụng giá theo mục đích tại
Hợp đồng mua bán điện của doanh nghiệp;
trường hợp TTDL được đầu tư để phục vụ mục
đích của doanh nghiệp và có một phần cung
cấp dịch vụ xử lý, lưu trữ và quản lý dữ liệu
cho bên thứ ba thì sẽ được áp giá bán lẻ điện
theo mục đích sử dụng điện căn cứ việc thỏa
thuận tỷ lệ sản lượng điện sử dụng cho từng
mục đích theo quy định tại điểm b khoản 3
Điều 3
Thông tư số 60/2025/TT-BCT. Việc
quy định nêu trên là phù hợp với định hướng,
chỉ đạo tại Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày
20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh
năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045 về việc không bù chéo giá điện
giữa các nhóm khách hàng.
Bộ Công Thương đã nhận được kiến nghị
của một số doanh nghiệp viễn thông về việc áp
dụng giá điện cho TTDL và hiện đang nghiên
cứu để hướng dẫn thực hiện cho phù hợp.
-- 4 of 5 --
5
STT Điều, khoản, điểm, tên
văn bản đề xuất xử lý
Nội dung phản ánh,
kiến nghị
Phương án xử lý
được đề xuất
(nếu có)
Ghi chú Lý do không nhất trí
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
được quy hoạch phát triển trung tâm dữ
liệu, phù hợp với Quy hoạch hạ tầng
thông tin và truyền thông, Chiến lược hạ
tầng số và quy hoạch tỉnh”
3. Chưa có quy định
pháp luật
Gói chính sách thực chất cho đầu tư
số và phát triển xanh:
Cho phép khấu trừ nhanh chi phí
đầu vào đối với đầu tư số, cung cấp tín
dụng ưu đãi và công nhận phần mềm lõi
là tài sản ưu đãi đầu tư.
Đối với kinh tế tuần hoàn, cần có
danh mục phân loại xanh cho nông
nghiệp, tín dụng xanh dài hạn, cơ chế
giao dịch tín chỉ carbon nông nghiệp và
ưu đãi thuế cho điện sinh khối/điện mặt
trời tại vùng trồng.
- Bộ, ngành có
trách nhiệm chủ
trì, phối hợp
nghiên cứu xử lý,
tham mưu xử lý:
Bộ Nông nghiệp
và Môi trường,
Bộ Công Thương
- Cơ quan kiến
nghị/phản ánh: Bộ
Tư pháp tổng hợp
từ các nguồn
thông tin
Kiến nghị nêu trên về định hướng bám sát chủ
trương thúc đẩy chuyển đổi số, tăng
trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn. Các
giải pháp như ưu đãi thuế, tín dụng xanh,
thị trường carbon mang tính khuyến
khích và phù hợp cơ chế thị trường. Tuy
nhiên, nội dung kiến nghị còn chưa đầy
đủ căn cứ pháp lý và tiêu chí cụ thể, chưa
làm rõ thẩm quyền ban hành. Đồng thời,
thiếu đánh giá tác động và nguồn lực
thực hiện.
-- 5 of 5 --