CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc18/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2026 giữa:
lại được nữa nên bà yêu cầu giải quyết ly hôn với ông H.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Trần H N, sinh ngày 21/9/2018.
Hiện nay ông H đang nuôi dưỡng cháu N. Khi ly hôn bà đồng ý để cho ông H tiếp tục nuôi
dưỡng cháu Nghĩa, bà không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung tự thoả thuận, nợ chung là không có nên bà không yêu cầu xem xét
giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
Hội đồng xét xử nhận định:
2
[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa
hôm nay bị đơn ông H vắng mặt không có lý do, nguyên đơn bà N có đơn xin vắng mặt.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét
xử vắng mặt đối với ông H và bà N.
[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Trần Minh H chung sống với nhau có
đăng ký kết hôn vào ngày 27/4/2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Cà
Mau (nay là Uỷ ban nhân dân xã TB, tỉnh Cà Mau). Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H
được xác lập hợp pháp, hai người tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định.
Sau khi kết hôn, bà N và ông H chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu
thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có sự quan tâm tôn trọng nhau, thường
xuyên xảy ra cự cãi, chung sống không có hạnh phúc nên hiện nay vợ chồng đã sống ly thân
là thực tế có diễn ra. Kể từ khi xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân đến nay với thời gian dài
mà hai bên không thể dàn xếp, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa
án tổ chức hòa giải để hai bên thoả thuận hàn gắn nhưng không có kết quả, do ông H không
tham gia hòa giải và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà N. Từ những vấn đề
đã nêu, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H đã xảy ra mâu thuẫn trầm
trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được nên giải quyết cho hai người được ly hôn là phù hợp. Vì vậy, bà N khởi
kiện yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về con chung: Bà N và ông H có một con chung là cháu Trần H N, sinh ngày
21/9/2018. Cháu N hiện tại chưa thành niên, ông H đang nuôi dưỡng cháu N vẫn đảm bảo
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.