CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxử số: 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025, giữa:
Về con chung: Có 01 người con chung tên Trần Thị Mỹ T1, sinh ngày
16/02/2007 (nữ). Khi ly hôn con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
2
Về cấp dưỡng, tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn bà Lê Thị T:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy
định mà bà T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi
kiện của ông M. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về
phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,
Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà T vẫn
không tham gia.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Ông Trần M yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị T nên xác
định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp xin ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28
của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bà T cư trú tại ấp C, xã Đ, tỉnh Cà Mau nên theo
quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau.
Ông Trần M có đơn xin vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố
Tụng dân sự xét xử vắng mặt ông M là phù hợp.
Đối với bà Lê Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 02 tham gia phiên
tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều
227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với
bà T.
Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Trần M và bà Lê Thị T chung sống với nhau vào năm 2000 đến nay
ông bà chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn nguyên
nhân do bất đồng quan điểm dẫn đến mất hạnh phúc, ông bà không sống chung
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.