CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcnguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 09/01/2023 tại UBND xã V, huyện V,
2
tỉnh Thái Bình (nay là xã T, tỉnh Hưng Yên) theo giấy chứng nhận kết hôn số 05
ngày 09/01/2023. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại Hà Nội,
cuộc sống hôn nhân tương đối hạnh phúc, không phát sinh mâu thuẫn lớn. Sau đó,
chị mang thai và trở về Yên Bái sinh sống cùng gia đình bên ngoại để thuận tiện
cho việc chăm sóc thai kỳ và sinh con. Sau khi chị sinh con, anh T vẫn làm việc
tại Hà Nội, vợ chồng không còn chung sống cùng nhau, từ tháng 8/2023 đến nay,
vợ chồng chị sống ly thân. Do khoảng cách địa lý xa, con còn nhỏ, không có điều
kiện gần gũi, chia sẻ nên vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cãi vã. Vợ
chồng đã nhiều lần tìm cách hòa giải, nhưng không có kết quả. Theo thời gian,
mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, xuất phát từ sự bất đồng về quan điểm
sống, cách nhìn nhận các vấn đề trong gia đình, đồng thời thiếu sự quan tâm, sẻ
chia và thấu hiểu lẫn nhau. Hai bên không còn tìm được tiếng nói chung trong hôn
nhân, dẫn đến tình trạng hôn nhân không đạt được mục đích. Đến nay, chị xác
định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, vợ chồng không còn
tình cảm, cuộc sống chung không còn hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt
được. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh
ngày 04/08/2023, hiện nay cháu K còn nhỏ và đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị
Tòa án giao cháu Nguyễn Minh K cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo
dục nhằm bảo đảm sự ổn định về tâm lý, học tập và đời sống của cháu. Chị không
yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Với công việc bán hàng tại trung tâm
thương mại, thu nhập trung bình khoảng 9.000.000 - 10.000.000 đồng/tháng, chị
đủ điều kiện để đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt, học tập và chăm sóc y tế cho con.
Ngoài ra chị còn được gia đình bên ngoại hỗ trợ trong việc chăm sóc con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về trình bày của bị đơn anh Nguyễn Văn T: Tòa án không lấy được lời
khai của anh Nguyễn Văn T.
* Tại biên xác minh ngày 12/3/2026, ông Nguyễn Văn T1 - bố đẻ anh
Nguyễn Văn T trình bày:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.