- Ngày ban hành: 25/11/2021
1
ÁN LỆ SỐ 46/2021/AL1
Về việc xác định tình tiết định khung hình phạt “Đối với trẻ em mà người
phạm tội có trách nhiệm giáo dục” trong tội “Dâm ô đối với trẻ em”
Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25
tháng 11 năm 2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31
tháng 12 năm 2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 12/2020/HS-GĐT ngày 07/8/2020 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Dâm ô đối với trẻ em” đối với bị cáo
Đinh Quang D.
Vị trí nội dung án lệ:
Đoạn 3 và đoạn 4 phần “Nhận định của Tòa án”.
Khái quát nội dung án lệ:
- Tình huống án lệ:
Bị cáo là giáo viên nơi bị hại là trẻ em theo học, không trực tiếp giảng dạy bị hại,
có hành vi dâm ô đối với bị hại.
- Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, Tòa án phải xác định bị cáo phạm tội “Dâm ô đối với trẻ em”
theo điểm c khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999 với tình tiết định khung
hình phạt “Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm giáo dục” (tương ứng
điểm d khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội “Dâm ô đối với
người dưới 16 tuổi” với tình tiết định khung hình phạt “Đối với người mà người
phạm tội có trách nhiệm giáo dục”).
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
- Điểm c khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội “Dâm ô đối với
trẻ em” (tương ứng với khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự năm
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”);
- Điểm đ, điểm e khoản 1 Điều 31 Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT ngày
28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Trường trung học cơ sở,
Trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.
Từ khoá của án lệ:
“Giáo viên nơi bị hại là trẻ em theo học”; “Dâm ô đối với trẻ em”; “Dâm ô
đối với người dưới 16 tuổi”; “Người phạm tội có trách nhiệm giáo dục”.
1 Án lệ này do Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề xuất.
-- 1 of 5 --
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Do quen biết nhau từ trước, khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/4/2017,
Nguyễn Thị T (sinh ngày 03/8/2001) là học sinh lớp 10, Trường trung học phổ
thông L sử dụng điện thoại nhắn tin cho Đinh Quang D là giáo viên của trường và
hẹn xuống phòng của D chơi.
Sau khi hẹn, cháu T đi bộ đến phòng của D ở khu tập thể giáo viên, tại
phòng ở của D, do ngại có người đi ngang qua nên D đóng cửa rồi cầm tay cháu
T xem chỉ tay. Lúc này, D đưa tay khoác vai, ôm eo, thấy cháu T không phản
ứng nên D nảy sinh ý định muốn gần gũi với cháu T để thoả mãn nhu cầu cá
nhân. D hôn cháu T, kéo cháu T nằm xuống giường và nằm lên giường cùng
cháu T rồi tiếp tục hôn, dùng tay sờ bụng, sờ ngực, sau đó dùng tay mở khuy
quần và kéo khoá quần cháu T xuống. D đưa tay trái của mình sờ vào bộ phận
sinh dục của cháu T. Cháu T không đồng ý nên kéo tay D ra và kéo khoá quần
lên. D tiếp tục kéo khoá quần của T xuống và tụt phần phía trước quần D đang mặc
xuống để lộ một phần dương vật ra ngoài, chạm vào hông của cháu T, cháu T đẩy D
ra thì quần của D tự bật lên, đẩy dương vật vào trong quần. D tiếp tục ngồi lên đùi
cháu T, dùng hai tay xoa vào má cháu T thì cháu T đẩy D ra và đứng dậy sửa lại tóc,
quần áo đòi về. D đi đến phía sau ôm cháu T rồi mở cửa cho cháu T về. Sau đó, cháu T
kể lại cho gia đình biết chuyện bị D xâm hại tình dục. Ngày 03/4/2017, bà Trần Thị H
là mẹ cháu T tố cáo hành vi của Đinh Quang D.
Tại Kết luận giám định pháp y số 166/TTPY ngày 07/7/2017, Trung tâm giám định
pháp y tỉnh G kết luận: Cháu Nguyễn Thị T không bị tổn hại cơ thể.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2017/HSST ngày 02/10/2017, Toà án
nhân dân huyện Chư Prông đã áp dụng khoản 1 Điều 116; điểm h, p, s khoản 1,
khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt Đinh Quang D 07 tháng tù
về tội “Dâm ô đối với trẻ em”.
Ngày 02/10/2017, Đinh Quang D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng
án treo.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 97/2017/HSPT ngày 29/12/2017, Toà án
nhân dân tỉnh Gia Lai đã chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Quang D; áp dụng
khoản 1, Điều 116; điểm h, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự
năm 1999; áp dụng thêm điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa bản án hình sự sơ thẩm, xử phạt Đinh Quang D 07 tháng tù nhưng cho
hưởng án treo.
Ngày 06/4/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 48/QĐ-VC2 đề nghị huỷ bản án hình
sự sơ thẩm và bản án hình sự phúc thẩm vì cho rằng hành vi phạm tội của Đinh
Quang D phải được xét xử với tình tiết định khung tăng nặng “Đối với trẻ em mà
người phạm tội có trách nhiệm giáo dục” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 116 Bộ
luật Hình sự năm 1999.
-- 2 of 5 --
3
Tại Quyết định Giám đốc thẩm số 55/2018/HS-GĐT ngày 23/10/2018, Uỷ
ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã giữ nguyên bản án hình
sự phúc thẩm.
Tại Kháng nghị số 13/QĐ-VKSTC-V7 ngày 23/10/2019, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao quyết định: Kháng nghị Quyết định giám đốc thẩm số
55/2018/HS-GĐT ngày 23/10/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và
Bản án hình sự phúc thẩm số 97/2017/HSPT ngày 29/12/2017 của Toà án nhân dân
tỉnh Gia Lai. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ
tục giám đốc thẩm huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2017/HSST ngày 02/10/2017
của Toà án nhân dân huyện Chư Prông, Bản án hình sự phúc thẩm số 97/2017/HSPT
ngày 29/12/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai và Quyết định giám đốc thẩm số
55/2018/HS-GĐT ngày 23/10/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xét
xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật. Với lý do như sau:
“Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng nhận định: Tình tiết “Người có
trách nhiệm giáo dục” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự
năm 1999 được hiểu là thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy hoặc là giáo viên chủ
nhiệm đối với người bị hại. Trong vụ án này, bị cáo Đinh Quang D là giáo viên,
cháu Nguyễn Thị T- người bị hại là học sinh, tuy nhiên cả hai không có mối quan
hệ thầy-trò trực tiếp nên áp dụng khoản 1 Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 1999 để
xử phạt Đinh Quang D. Nhận định và quyết định như trên của Toà án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự,
bởi vì: Đinh Quang D là giáo viên bộ môn địa lý của Trường trung học phổ thông
L, nơi cháu Nguyễn Thị T đang là học sinh. Theo quy định tại điểm đ, e khoản 1
Điều 31 Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo ban hành kèm theo Điều lệ trường Trung học cơ sở, Trường trung học phổ
thông và trường phổ thông có nhiều cấp học thì nhiệm vụ của giáo viên bộ môn là
phải bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của học sinh, phối hợp với giáo viên chủ
nhiệm, các giáo viên khác trong việc dạy học và giáo dục học sinh. Do đó, với tư
cách là giáo viên của nhà trường, D phải có trách nhiệm giáo dục tất cả các học
sinh của trường, trong đó có cháu Nguyễn Thị T. Hành vi phạm tội của Đinh
Quang D đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của toàn thể giáo viên Trường
trung học phổ thông L. Vì vậy, hành vi phạm tội của Đinh Quang D phải bị khởi
tố, xét xử với tình tiết định khung “Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách
nhiệm giáo dục” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 116 Bộ luật Hình sự.
Toà án nhân dân huyện Chư Prông áp dụng khoản 1 Điều 116 Bộ luật
Hình sự 1999 xử phạt Đinh Quang D 07 tháng tù là không đúng với tính chất,
mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bản án phúc thẩm và
Quyết định giám đốc thẩm áp dụng thêm điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự năm 2015 đối với bị cáo D là không đúng vì bố của bị cáo không phải là liệt
sĩ; đồng thời cho bị cáo D hưởng án treo là chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh đối
với loại tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em đang diễn biến phức tạp và được dư
luận xã hội đặc biệt quan tâm như hiện nay”.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề
nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của
-- 3 of 5 --
4
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số
55/2017/HSST ngày 02/10/2017 của Toà án nhân dân huyện Chư Prông, Bản án
hình sự phúc thẩm số 97/2017/HSPT ngày 29/12/2017 của Toà án nhân dân tỉnh
Gia Lai và Quyết định giám đốc thẩm số 55/2018/HS-GĐT ngày 23/10/2018 của
Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì Toà án cấp sơ thẩm và
Toà án cấp phúc thẩm xét xử Đinh Quang D về “Tội dâm ô đối với trẻ em” là có
căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Về tình tiết định khung hình phạt: Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng D không phải là thầy giáo trực tiếp dạy cháu
Nguyễn Thị T nên không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Đối với trẻ em
mà người phạm tội có trách nhiệm giáo dục” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 116
Bộ luật Hình sự năm 1999 là không đúng pháp luật.
[3] Đinh Quang D là giáo viên dạy môn địa lý của Trường trung học phổ
thông L. Ngày 26/3/2017, D xuống khu học sinh dân tộc nội trú nhờ học sinh nam
chặt chuối giúp ở phía sau khu tập thể của D, gặp T chơi ở phòng các học sinh nữ
và biết T đang học lớp 10. Từ đó D và T thường hay nhắn tin cho nhau. Ngày
02/4/2017, T nhắn tin đến phòng D chơi và D có hành vi dâm ô đối với T. Do đó, D
biết T được khoảng 1 tuần và biết T là học sinh của Trường trung học phổ thông L.
[4] Theo quy định tại điểm đ, e khoản 1 Điều 31 Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT
ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Điều lệ trường
Trung học cơ sở, Trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp
học thì nhiệm vụ của giáo viên bộ môn là phải bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của học sinh, phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác trong việc dạy
học và giáo dục học sinh. Do đó, với tư cách là giáo viên của nhà trường, D phải
có trách nhiệm giáo dục tất cả các học sinh của trường, trong đó có cháu Nguyễn Thị T.
Do đó, D phải bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng là “Đối với trẻ em mà
người phạm tội có trách nhiệm giáo dục” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 116
Bộ luật Hình sự năm 1999 mới đúng pháp luật.
[5] Toà án nhân dân huyện Chư Prông áp dụng khoản 1 Điều 116 Bộ luật
Hình sự năm 1999 xử phạt Đinh Quang D 07 tháng tù là không đúng với tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bản án phúc thẩm và
Quyết định giám đốc thẩm áp dụng thêm điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
năm 2015 đối với bị cáo D là không đúng vì theo lý lịch cựu chiến binh thì bố của
bị cáo không phải là liệt sĩ; đồng thời cho bị cáo D hưởng án treo là chưa đáp ứng
yêu cầu đấu tranh đối với loại tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em đang diễn biến
phức tạp và được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm như hiện nay.
[6] Do đó, Kháng nghị giám đốc thẩm số 13/QĐ-VKSTC-V7 ngày
23/10/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với Quyết định
giám đốc thẩm số 55/2018/HS-GĐT ngày 23/10/2018 của Toà án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng và Bản án hình sự phúc thẩm số 97/2017/HSPT ngày
-- 4 of 5 --
5
29/12/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai là cần thiết; cần huỷ Bản án hình
sự sơ thẩm số 55/2017/HSST ngày 02/10/2017 của Toà án nhân dân huyện Chư Prông,
Bản án hình sự phúc thẩm số 97/2017/HSPT ngày 29/12/2017 của Toà án nhân
dân tỉnh Gia Lai và Quyết định giám đốc thẩm số 55/2018/HS-GĐT ngày
23/10/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xét xử sơ thẩm lại theo
đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 388; Điều 391 và Điều 394 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015:
1. Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 13/QĐ-VKSTC-V7 ngày
23/10/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với Quyết định giám
đốc thẩm số 55/2018/HS-GĐT ngày 23/10/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng và Bản án hình sự phúc thẩm số 97/2017/HSPT ngày 29/12/2017 của Toà án
nhân dân tỉnh Gia Lai.
2. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2017/HSST ngày 02/10/2017 của Toà án
nhân dân huyện Chư Prông, Bản án hình sự phúc thẩm số 97/2017/HSPT ngày
29/12/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai và Quyết định giám đốc thẩm số
55/2018/HS-GĐT ngày 23/10/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để xét xử
sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai
để xét xử sơ thẩm lại.
NỘI DUNG ÁN LỆ
“[3] Đinh Quang D là giáo viên dạy môn địa lý của Trường trung học
phổ thông L. Ngày 26/3/2017, D xuống khu học sinh dân tộc nội trú nhờ học sinh
nam chặt chuối giúp ở phía sau khu tập thể của D, gặp T chơi ở phòng các học
sinh nữ và biết T đang học lớp 10. Từ đó D và T thường hay nhắn tin cho nhau.
Ngày 02/4/2017, T nhắn tin đến phòng D chơi và D có hành vi dâm ô đối với T.
Do đó, D biết T được khoảng 1 tuần và biết T là học sinh của Trường trung học
phổ thông L.
[4] Theo quy định tại điểm đ, e khoản 1 Điều 31 Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT
ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Điều lệ trường
Trung học cơ sở, Trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp
học thì nhiệm vụ của giáo viên bộ môn là phải bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của học sinh, phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác trong việc dạy
học và giáo dục học sinh. Do đó, với tư cách là giáo viên của nhà trường, D phải
có trách nhiệm giáo dục tất cả các học sinh của trường, trong đó có cháu Nguyễn
Thị T. Do đó, D phải bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng là “Đối với trẻ em
mà người phạm tội có trách nhiệm giáo dục” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 116
Bộ luật Hình sự năm 1999 mới đúng pháp luật.”
-- 5 of 5 --
Văn bản046/2021Ban hành: 25/11/2021Còn hiệu lực
Văn bản 046/2021 (2021)
🌐 Tên văn bản theo 7 thứ tiếng (bản dịch máy, tham khảo)
- EnglishDocument 046/2021 — Vietnam (2021)
- 中文文件 046/2021 — 越南 (2021)
- 日本語文書 046/2021 — ベトナム (2021)
- 한국어문서 046/2021 — 베트남 (2021)
- FrançaisDocument 046/2021 — Vietnam (2021)
- РусскийДокумент 046/2021 — Вьетнам (2021)
- EspañolDocumento 046/2021 — Vietnam (2021)
⚠ Tiêu đề chi tiết chưa được trích xuất
Tiêu đề chi tiết của Văn bản chưa được trích xuất từ nguồn - tải PDF để xem nội dung vụ việc cụ thể.
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải0 lượt xem
Xem bản PDF gốc (giữ nguyên dấu, chữ ký, định dạng)
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.