CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxét xử số: 161/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026 giữa các đương
anh K.
2
- Về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác: Vợ chồng không có con
chung, tài sản chung tự thỏa thuận, không có nợ người khác và không có người
khác nợ lại vợ chồng.
Đối với anh Nguyễn Đình K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng, nhưng anh không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của chị Như.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị N khởi
kiện yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Đình K là vụ kiện
tranh chấp ly hôn, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại
khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Chị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh K đã được triệu
tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227
và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị N, anh K.
[3] Xét về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2024, chị
N với anh K kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo
quy định. Như vậy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị N với anh K được pháp luật
công nhận và bảo vệ.
[4] Xét về nguyên nhân mâu thuẫn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo chị N
xác định quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, nhưng về sau vợ
chồng thường xuyên xãy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không
hợp, anh K thường dùng lời lẽ thô tục xúc phạm chị và gia đình chị. Vợ chồng đã
ly thân từ tháng 8/2025. Tuy nhiên, anh K không có ý kiến. Như vậy, Hội đồng xét
xử khẳng định trong cuộc sống vợ chồng giữa chị N với anh K đã có những mâu
thuẫn không thể hàn gắn được là thực tế có xãy ra. Đồng thời, mâu thuẫn đó đã lâm
vào tình trạng trầm trọng, dẫn đến cuộc sống chung không thể kéo dài, và mục đích
của hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của chị N về quan hệ hôn nhân.
[5] Xét về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác, Hội đồng xét xử
nhận thấy: Chị N xác định vợ chồng không có con chung, tài sản chung, không có
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.