Điều 7. Chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng, nhân lực đặc thù về nghề
nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao
1. Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển tài năng trong lĩnh vực văn hóa,
nghệ thuật, thể thao thông qua bồi dưỡng tập trung, chuyên sâu ở trong nước và
nước ngoài; bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và chăm sóc sức
khoẻ chuyên biệt để phục vụ biểu diễn, luyện tập, nghiên cứu theo hướng đồng
bộ, hiện đại đạt chuẩn khu vực và quốc tế gắn với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển
văn hóa và công nghiệp văn hóa.
2. Cho phép đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật,
thể thao được áp dụng cơ chế tuyển dụng không qua thi tuyển đối với:
a) Người học được đào tạo, tốt nghiệp ở trong nước và nước ngoài thuộc lĩnh vực
văn hóa, nghệ thuật, thể thao có thành tích chuyên môn đặc biệt xuất sắc;
b) Vận động viên, nghệ sĩ tài năng đạt huy chương, giải thưởng cấp quốc gia,
khu vực, quốc tế.
Người được tuyển dụng theo quy định tại khoản này được hưởng chính
sách thu hút, trọng dụng nhân tài theo quy định của pháp luật.
3. Viên chức, người lao động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp trong các
đơn vị sự nghiệp công lập nghệ thuật biểu diễn, đơn vị nghệ thuật biểu diễn thuộc
lực lượng vũ trang được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ bồi dưỡng luyện tập
và biểu diễn theo lộ trình cho đến khi thực hiện chế độ tiền lương mới như sau:
a) Phụ cấp ưu đãi nghề từ mức 40% đến 60% mức lương hiện hưởng cộng với
phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đối với viên
chức, người lao động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp trong loại hình nghệ thuật
biểu diễn truyền thống, nghệ thuật biểu diễn cổ điển và xiếc; viên chức, người lao
động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp làm việc tại khu vực biên giới, hải đảo,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn;
b) Phụ cấp ưu đãi nghề từ mức 20% đến 30% mức lương hiện hưởng cộng với
phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đối với viên chức,
-- 4 of 8 --
5
người lao động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa không
thuộc các trường hợp quy định tại điểm a khoản này;
c) Chế độ bồi dưỡng luyện tập, bồi dưỡng biểu diễn căn cứ vào vai trò, mức
độ tham gia hoạt động trong tác phẩm, chương trình, tiết mục để xác định: chế độ
bồi dưỡng luyện tập từ 5% đến 15% mức lương cơ sở cho một buổi luyện tập; chế
độ bồi dưỡng biểu diễn (sơ duyệt, tổng duyệt và biểu diễn) từ 15% đến 30% mức
lương cơ sở cho một buổi biểu diễn.
4. Nhà nước hỗ trợ kinh phí:
a) Đào tạo lại cho viên chức thuộc các lĩnh vực nghệ thuật truyền thống, xiếc,
múa khi hết tuổi nghề được học tập để chuyển đổi vị trí việc làm;
b) Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp
văn hóa; nhân lực chuyên sâu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sáng tạo nội
dung số về văn hóa; giám tuyển, giám định tác phẩm văn hóa, nghệ thuật, di sản
văn hóa.
5. Chính quyền địa phương cấp tỉnh bố trí ngân sách, huy động nguồn lực xã
hội để đãi ngộ, hỗ trợ nghệ nhân, nghệ sĩ sáng tạo, thực hành, truyền dạy văn hóa,
nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống tại địa phương, trong các trường phổ
thông trên địa bàn hoặc tham gia quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.
6. Chính phủ quy định chi tiết các khoản 2, 3 và 4 Điều này.