CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc1008/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 05 năm 2026, giữa các đương sự:
2
chung nên thường xuyên sảy ra cái cọ, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị và
anh T đã sống ly thân từ cuối năm 2024 đến nay không ai quan tâm đến ai. Đến nay
chị xét thấy tình cảm vợ, chồng không còn, hạnh phúc đã thật sự tan vỡ nên chị yêu
cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Anh T.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Về tài sản và công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Bùi Anh T trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị D kết hôn tự nguyện, có làm thủ tục đăng
ký kết hôn ngày 27/05/2024 tại tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa
- Nay là UBND xã T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hoà thuận
đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân vợ chồng không
có tiếng nói chung nên thường xuyên xảy ra cãi cọ, cuộc sống vợ chồng không hạnh
phúc. Anh và chị D đã sống ly thân từ cuối năm 2024 đến nay, không ai quan tâm
đến ai nữa. Đến nay, anh cũng xét thấy tình cảm vợ, chồng không còn, hạnh phúc đã
thật sự tan vỡ nên anh đồng ý ly hôn với chị Phạm Thị D.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên anh không yêu cầu Toà án
giải quyết.
- Về tài sản và công nợ chung: Anh Bùi A Tân không yêu cầu Tòa án giải quyết
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn
đối với anh Bùi Anh T. Anh T cư trú tại xã T, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là
vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh
Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị Tòa án
xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 BLTTDS, tòa án xét xử vắng
mặt chị D và anh T.
[2] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị D và anh Bùi A T kết hôn trên cơ sở tự nguyện,
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.