Mục lục - 5 điều ▼
Điều 1. Vợ chồng chúng tôi nhận vàng từ khi làm tờ nhượng này.
Điều 2. Nếu đất này có ai tranh chấp hoặc có lý do gì vợ chồng tôi, chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chú tôi.
Điều 3. Vợ chồng tôi phải giao tờ chứng khoán ruộng cho chú tôi.
Điều 4. Vợ chồng tôi chịu trách nhiệm trả nợ và thuế nợ từ trước tới ngày
lập tờ nhượng.
Sau khi hoàn tất các thủ tục ông Lâm đã đọc toàn bộ văn bản nội dung “tờ
nhượng đất ruộng”, trước sự chứng kiến của Ban nhân dân ấp. Không ai có ý kiến
phản đối về nội dung hay hình thức của văn bản này sau đó các bên đã ký tên và
ghi rõ họ tên đầy đủ.
Đến ngày 02 tháng 12 năm 1994 vợ chồng ông Lâm và bà Hoa mới được
Ủy ban nhân dân huyện Thốt Nốt (cũ), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
đối với thửa đất đã chuyển nhượng trước đó cho ông Khoảnh. Tuy nhiên, do mối
quan hệ chú cháu trong gia đình, ông Khoảnh không yêu cầu sang tên giấy chứng
-- 4 of 14 --
5
nhận mà tiếp tục canh tác quản lý và sử dụng thửa đất này cho đến tận ngày hôm
nay.
Nay bằng văn bản này ông xin xác nhận là bà Trần Thị Lý con gái ông Trần
Văn Khoảnh là người đang trực tiếp canh tác sử dụng thửa đất nêu trên. Đồng thời
xin quý Toà án xem xét bác bỏ nội dung trong đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị
Kim Hoa cho rằng đất chỉ là hình thức “cầm cố đất”. Bởi điều này hoàn toàn
không đúng với sự thật diễn ra.
Ngày 27/10/2025 ông Trương Thanh Liêm có lời khai như sau:
Ông với chỗ bà Nguyễn Thị Kim Hoa và bà Trần Thị Lý có quen biết vì
ônglàm ruộng ngoài khúc nhà của bà Hoa và bà Lý. Ông có trực tiếp khai và có
xác nhận trong văn bản trình bày ý kiến ngày 25 tháng 4 năm 2025 tại Ủy ban
nhân dân xã Vĩnh Trinh, thành phố Cần Thơ. Ông có trực tiếp chứng kiến bà Hoa
và ông Lâm ký tên vào văn bản “tờ nhượng đứt đất ruộng”, ngày 17 tháng 4 năm
1993. Ông có chứng kiến trực tiếp việc ông Trần Văn Khoảnh giao vàng cho ông
Lâm và vợ của ông Lâm, nhưng giao số vàng là bao nhiêu thì ông không nhớ do
thời gian đã lâu. Ông Khoảnh giao vàng cho vợ chồng ông Lâm tại nhà của ông
Khoảnh và lập hợp đồng chuyển nhượng tại nhà của ông Khoảnh. Việc ông Lâm
và bà Hoa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thời gian nào thì ông
không biết ông chỉ chứng kiến việc mua bán giữa ông Khoảnh và ông Lâm. “Tờ
nhượng đứt đất ruộng” lập ngày 17 tháng 4 năm 1993, là do ông Út Trầu (đã chết)
viết, viết xong đọc lại cho 2 bên mua bán nghe và ông là người làm chứng cùng
ký tên vào biên bản. Việc chuyển nhượng có đo đạc thực tế hay không thì ông
không biết, vì lúc đó ông đi ruộng ngang thì ông Khoảnh và ông Lâm kêu ông vào
chứng kiến giùm. Lúc đọc lại tờ nhượng đất ruộng thì có đọc cái diện tích, nhưng
lâu rồi thì ông cũng không nhớ, ông có ký tên vào tờ nhượng đức đất ruộng lập
ngày 17 tháng4 năm 1993 với tư cách là người làm chứng việc ông Lâm và ông
Khoảnh mua bán đất.
Ông cam đoan lời khai của ông là đúng sự thật có bất cứ lời khai nào khác
với lời khai của hôm nay thì đều không đúng và ông cũng lớn tuổi và xin được
vắng mặt tại các nơi các cấp Tòa Án.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025 ông Trần Thanh Liêm tiếp tục có lời khai như
sau: Ông không có họ hàng gì với nguyên đơn và bị đơn ông xác định, ông có ký
tên vào “tờ nhượng đất ruộng” ngày 17 tháng 04 năm 1993 do bị đơn cung
cấp.Ông xác định khi ông ký tên vào văn bản đó thì ông cũng không có chứng
kiến trực tiếp các bên ký tên vào văn bản đó, ông đi ruộng ngang thì ông Trần Văn
Khoảnh, ông Lâm và bà Hoa cùng kêu ông vào ký tên làm chứng giùm. Khi ông
ký tên làm chứng thì ông cũng không biết 2 bên buôn bán với nhau thửa đất nào,
-- 5 of 14 --
6
ông cũng không có chứng kiến việc đo đạc gì cả nên cũng không xác định được
phần đất buôn bán. Ông cũng có thấy 2 bên đưa vàng cho nhau nhưng cũng không
biết số lượng là bao nhiêu. Đối với văn bản trình bày ý kiến ngày 25 tháng 04 năm
2025, thì ông có ký tên vào văn bản đó trước mặt người chứng thực, nhưng ông
không được đọc lại nội dung văn bản đó, nhưng ông có ký tên vào văn bản đó là
đúng. Nay ông đã được cán bộ Tòa án đọc lại nội dung thì ông thấy có một số nội
dung là không đúng vì có một số sự việc ông không thể nào nhớ được nội dung
như vậy. Ông cam đoan lời khai của ông hôm nay là đúng thực tế, các lời khai của
ông khác với lời khai hôm nay đều không đúng. Do tuổi cao, nên yêu cầu được
giải quyết vắng mặt tại các nơi các cấp Toà Án.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Toà án nhân dân khu vực 4
- Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số: 139/2025/DS-ST ngày 07
tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ đã tuyên như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim
Hoa.
Bà Nguyễn Thị Kim Hoa và những người đồng hàng thừa kế gồm: Bà Trần
Thị Thanh, bà Trần Thị Huệ, ông Trần Văn Vốn, ông Trần Văn Lùng được quyền
liên hệ Trung tâm phát triển quỹ đất, thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Cần Thơ
để nhận số tiền: 1.963.248.000đ (một tỷ, chín trăm sáu mươi ba triệu, hai trăm
bốn mươi tám ngàn đồng) và tiền lãi phát sinh (nếu có).
Bà Trần Thị Lý và những người đồng hàng thừa kế gồm: bà Trần Thị Kim
Mãi, Trần Thị Cục, Trần Thị Nhơn, Trần Thị Nhung, Trần Văn Hiếu, Trần Thị
Xuân, được quyền liên hệ Trung tâm phát triển quỹ đất, thuộc Uỷ ban nhân dân
thành phố Cần Thơ để nhận số tiền: 490.812.000đ (bốn trăm chín mươi triệu, tám
trăm mười hai ngàn đồng).
Bà Trần Thị Lý được nhận số tiền: 37.920.000đ (Ba mươi bảy triệu, chín trăm
hai mươi ngàn đồng) và tiền lãi phát sinh (nếu có).
Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Cần Thơ thuộc Uỷ ban nhân dân thành
phố Cần Thơ có trách nhiệm chi trả số tiền cho các đương sự theo nội dung bản
án đã tuyên.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim Hoa và những người đồng hàng thừa kế gồm: Bà
Trần Thị Thanh, bà Trần Thị Huệ, ông Trần Văn Vốn, ông Trần Văn Lùng cùng
có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị Lý và những người đồng hàng thừa kế gồm:
Bà Trần Thị Kim Mãi, Trần Thị Cục, Trần Thị Nhơn, Trần Thị Nhung, Trần Văn
Hiếu, Trần Thị Xuân số vàng là: 15 (mười lăm) chỉ vàng 24k, loại 9999.
Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tài sản, biên bản định giá do Toà án
lập ngày 17/4/2025, để xác định phần đất và tài sản được bồi hoàn.
-- 6 of 14 --
7
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo
của đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn có đơn kháng cáo đối với bản án
sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn bà Hoa yêu cầu giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Lùng yêu cầu giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Bà Lý đại diện uỷ quyền cho Trần Thị Kim Mãi, Trần Thị Cục, Trần Văn
Hiếu, Trần Thị Nhơn, Trần Thị Nhung, Trần Thị Xuân, thống nhất với lời trình
bày và đề nghị của bị đơn.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã
tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi
xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn kháng
cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài
liệu do Viện kiểm sát thu thập bổ sung, có đủ cơ sở xác định giao dịch giữa ông
Trần Văn Lâm, bà Nguyễn Thị Kim Hoa với ông Khoảnh là giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, không phải quan hệ cầm cố quyền sử dụng bởi lẽ:
nguyên đơn cho rằng đây chỉ là việc “cố đất”, tuy nhiên không cung cấp được bất
kỳ tài liệu, giấy nhận cố, biên nhận giao tiền hay chứng cứ nào chứng minh cho
lời trình bày của mình. Trong khi đó, phía bị đơn xuất trình được “Tờ nhượng đức
đất ruộng” (bút lục 19) bản chính lập ngày 17/4/1993 có chữ ký của ông Lâm và
bà Hoa, thể hiện rõ nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Khoảnh
với giá 15 chỉ vàng 24K. Mặt khác, theo tập quán phổ biến ở địa phương, nếu chỉ
là “cố đất” thì bên nhận cố chỉ được giao đất để canh tác nhằm trừ lãi, còn giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn do bên cố giữ. Tuy nhiên, trong vụ án này, sau
khi được cấp giấy chứng nhận vào năm 1994, ông Lâm đã giao luôn giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Khoảnh quản lý, sử dụng. Việc giao cả giấy
chứng nhận là tình tiết đặc biệt quan trọng, thể hiện ý chí chuyển giao quyền sử
dụng đất, phù hợp với bản chất của quan hệ chuyển nhượng chứ không phải quan
hệ cầm cố. Ngoài ra, kết quả xác minh của Viện kiểm sát còn cho thấy bà Hoa
biết rõ giấy chứng nhận đang do phía bị đơn giữ nhưng vẫn khai báo mất nhằm
-- 7 of 14 --
8
làm phát sinh giấy chứng nhận mới để thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền
sử dụng đất. Đây là dấu hiệu thể hiện sự thiếu thiện chí và không phù hợp với lời
trình bày cho rằng đất chỉ “cố” chứ chưa chuyển nhượng. Bên cạnh đó, bà Hoa
còn trình bày rằng bản thân không biết chữ, không biết ký tên và mọi giấy tờ đều
chỉ lăn tay nhằm phủ nhận chữ ký trong “Tờ nhượng đức đất ruộng”. Tuy nhiên,
tài liệu trong hồ sơ thể hiện tại Biên bản định giá tài sản ngày 17/4/2024, bà Hoa
trực tiếp ký tên và viết họ tên “Nguyễn Thị Kim Hoa”. Do đó, lời khai cho rằng
bà không biết ký tên là không phù hợp với chứng cứ khách quan, có cơ sở xác
định bà Hoa cố tình che giấu chữ viết và chữ ký của mình nhằm phủ nhận việc
tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 1993. Đối với
lời khai của người làm chứng ông Trương Thanh Liêm, đây là nguồn chứng cứ
quan trọng, khách quan và phù hợp với các tài liệu khác trong hồ sơ. Ông Liêm
xác định trực tiếp chứng kiến việc ông Lâm, bà Hoa bán đất cho ông Khoảnh;
chứng kiến ông Út Trầu viết giấy tay chuyển nhượng; chứng kiến các bên ký tên,
giao nhận vàng và giao giấy tờ cho nhau. Lời khai này phù hợp với nội dung “Tờ
nhượng đức đất ruộng” ngày 17/4/1993 và phù hợp với quá trình quản lý, sử dụng
đất thực tế kéo dài liên tục của phía bị đơn. Mặc dù hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất lập bằng giấy tay chưa tuân thủ đầy đủ quy định về hình thức,
nhưng giao dịch đã được các bên thực hiện trên thực tế từ năm 1993, theo điểm
b3 tiểu mục 2.3 mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 129 Bộ luật Dân sự năm
2015, trường hợp giao dịch vi phạm về hình thức nhưng các bên đã thực hiện phần
lớn nghĩa vụ thì có căn cứ công nhận hiệu lực của giao dịch. Do đó, yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn về việc đòi lại đất là không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên,
căn cứ Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất tại bút lục số 86 và 87,
thửa đất số 897 có diện tích thực tế 5.602,1m², thửa đất số 898 có diện tích 928m²,
tổng cộng hai thửa là 6.530,1m². Trong khi đó, theo “Tờ nhượng đức đất ruộng”
lập ngày 17/4/1993, ông Trần Văn Lâm và bà Nguyễn Thị Kim Hoa chỉ chuyển
nhượng cho ông Khoảnh diện tích 6.200m². Như vậy, phần diện tích vượt ngoài
phạm vi chuyển nhượng còn lại là 330,1m² (6.530,1m² – 6.200m² = 330,1m). Hiện
nay, toàn bộ hai thửa đất số 897 và 898 đã bị Nhà nước thu hồi để thực hiện khu
công nghiệp và được bồi thường tổng số tiền 2.491.980.000 đồng. Do phần diện
tích 330,1m² chưa thuộc phạm vi chuyển nhượng nên bà Lý có trách nhiệm hoàn
trả cho phía nguyên đơn phần giá trị tương ứng theo tỷ lệ diện tích thực tế được
bồi thường, cụ thể: 2.491.980.000 đồng6.530,1m² x 330,1m² = 125.970.781 đồng.
Do đó, có căn cứ buộc bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 125.970.781 đồng
là phù hợp. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2
-- 8 of 14 --
9
Điều 308. Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm
số: 06/QĐ-VKS-DS ngày 20 tháng 11 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân khu vực 4, thành phố Cần Thơ, sửa bản án sơ thẩm theo hướng phân
tích trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại Tòa phúc thẩm; Căn cứ vào
kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên
và những người tham g