Mục lục - 3 điều ▼
Điều 1. Bổ sung Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Bộ luật Hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt,
giảm thời hạn chấp hành hình phạt
1. Bổ sung hướng dẫn về mức giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù tại điểm b tiểu
mục 3.2 mục 3 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như sau:
b) Người bị kết án phạt tù từ 30 năm trở xuống thì mỗi lần có thể được giảm từ
ba tháng đến ba năm. Trường hợp được giảm ba năm phải là người bị kết án phạt tù
có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, cải tạo và chấp hành nghiêm chỉnh
nội quy, quy chế giam giữ.
Trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù, có đủ các điều kiện được xét
giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù và phần hình phạt tù còn lại mà họ phải chấp
hành là dưới 3 tháng thì mức giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù có thể bằng thời
-- 1 of 4 --
CÔNG BÁO/Số 622 + 623 ngày 08-11-2010 107
hạn tù còn lại nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai hình phạt đã tuyên
theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Ví dụ 1: Nguyễn Văn A bị kết án 5 năm tù, A đã chấp hành được 4 năm 10 tháng
tù và có đủ các điều kiện để được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù theo hướng
dẫn tại tiểu mục 3.1 mục 3 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP. Trong trường hợp này,
A có thể được giảm phần hình phạt tù còn lại (2 tháng).
Ví dụ 2: Trần Văn T bị kết án 3 tháng tù, T đã chấp hành được một phần ba hình
phạt (1 tháng tù) và có đủ các điều kiện khác để được giảm thời hạn chấp hành hình
phạt tù theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 mục 3 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP.
Trong trường hợp này, T chỉ có thể được giảm đến 1 tháng 15 ngày tù vì theo quy
định tại khoản 3 Điều 58 của Bộ luật Hình sự thì T phải bảo đảm chấp hành được
một phần hai mức hình phạt đã tuyên (tức là 1 tháng 15 ngày tù).
2. Bổ sung mục 1a hướng dẫn về tổng hợp hình phạt tù chung thân hoặc tử hình
mà bị cáo đã bị kết án bởi một bản án khác đã có hiệu lực pháp luật vào Nghị quyết
số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao như sau:
Trường hợp bị cáo bị truy tố về một hoặc một số tội thuộc thẩm quyền xét xử của
Tòa án nhân dân cấp huyện mà khi thụ lý vụ án xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình
phạt tù chung thân hoặc tử hình tại một bản án khác và bản án đó đã có hiệu lực
pháp luật thì Tòa án nhân dân cấp huyện phải báo cáo với Tòa án nhân dân cấp tỉnh
để Tòa án nhân dân cấp tỉnh thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh rút hồ
sơ vụ án lên để truy tố, xét xử ở cấp tỉnh.
Điều 2. Bổ sung Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định
trong Phần thứ năm “Thi hành bản án và quyết định của Tòa án” của Bộ luật
Tố tụng hình sự
1. Bổ sung mục 10 phần IV Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quyết định của Hội đồng xét
miễn, giảm như sau:
10. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét
miễn, giảm có quyền:
a) Chấp nhận toàn bộ đề nghị miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc rút
ngắn thời gian thử thách của án treo;
b) Chấp nhận một phần đề nghị miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc
rút ngắn thời gian thử thách của án treo;
-- 2 of 4 --
108 CÔNG BÁO/Số 622 + 623 ngày 08-11-2010
c) Không chấp nhận đề nghị miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc rút
ngắn thời gian thử thách của án treo;
d) Đối với người được đề nghị xét giảm, nếu sau khi được chấp nhận toàn bộ
đề nghị giảm thời hạn chấp hành hình phạt đối với họ, mà thời hạn chấp hành hình
phạt còn lại không quá 1 tháng thì Hội đồng xét giảm có thể quyết định giảm toàn
bộ phần hình phạt còn lại.
2. Bổ sung mục 13 Phần IV Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hiệu lực thi hành của quyết
định miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc rút ngắn thời gian thử thách của
án treo như sau:
13. Quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
hoặc rút ngắn thời gian thử thách của án treo có thể bị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng
nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của Viện kiểm sát cấp trên là mười lăm
ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm
thời hạn chấp hành hình phạt hoặc rút ngắn thời gian thử thách của án treo có hiệu
lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Trường hợp
người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian được giảm bằng với thời hạn tù
còn lại mà họ phải chấp hành thì quyết định của Tòa án về việc giảm thời hạn chấp
hành hình phạt tù được thi hành ngay, mặc dù quyết định đó có thể bị Viện kiểm sát
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
3. Bổ sung mục 3a hướng dẫn về thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không
giam giữ vào Phần III Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như sau:
Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ là ngày cơ quan, tổ
chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành
án và bản sao bản án. Thời điểm bắt đầu tính thời gian cải tạo không giam giữ phải
được tuyên trong phần quyết định của bản án.
Ví dụ: Nguyễn Văn A bị xử phạt 1 năm cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp
tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Đối với trường hợp
này, trong phần quyết định của bản án cần ghi rõ: “... xử phạt Nguyễn Văn A 1 năm
cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản; thời hạn cải tạo không giam giữ tính
từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được
quyết định thi hành án và bản sao bản án”.
-- 3 of 4 --
CÔNG BÁO/Số 622 + 623 ngày 08-11-2010 109
Điều 3. Hiệu lực thi hành
1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông
qua ngày 23 tháng 9 năm 2010 và có hiệu lực thi hành sau bốn mươi lăm ngày, kể
từ ngày ký ban hành.
2. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc cần phải giải thích hoặc hướng
dẫn bổ sung thì đề nghị phản ánh cho Tòa án nhân dân tối cao để có sự giải thích
hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời./.
TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN
Trương Hòa Bình
-- 4 of 4 --