CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc- Theo đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 01 năm 2026, lời khai trong quá
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị N kết hôn với ông Tạ Ngọc N1 trên cơ
sở tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại
Ủy ban nhân dân xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên (nay là Ủy ban nhân dân xã H,
tỉnh Hưng Yên) vào ngày 01/02/2002 theo trích lục kết hôn số 140/2024/TLKH-
BS.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu
xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân căng thẳng.
Bà N đã nhiều lần tìm cách hàn gắn do không muốn gia đình đổ vỡ nhưng không
thành. Nay nhận thấy cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng
không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu được ly hôn với
ông Tạ Ngọc N1.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Đỗ Thị N và ông Tạ Ngọc
N1 có 4 con chung là Tạ Thị Hồng N2, sinh ngày 28/02/2003; Tạ Thị Cẩm T, sinh
ngày 29/04/2005; Tạ Thị Khả Á, sinh ngày 09/06/2012; Tạ Ngọc Đ, sinh ngày
12/01/2014. Sau khi ly hôn bà Đỗ Thị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng và
giáo dục con chung Tạ Thị Khả Á, sinh ngày 09/06/2012 và Tạ Ngọc Đ, sinh ngày
12/01/2014 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Đối với con chung là Tạ Thị Hồng
N2, sinh ngày 28/02/2003; Tạ Thị Cẩm T, sinh ngày 29/04/2005 đã đủ 18 tuổi nên
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về cấp dưỡng: Bà Đỗ Thị N xác định không yêu cầu ông Tạ Ngọc N1 thực
hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Tạ Ngọc N1 đã được Tòa án tống đạt bằng hình thức thông
báo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình
tố tụng và không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ
Chí Minh tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết
vụ án đã được thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng
dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.