Mục lục - 3 điều ▼
Điều 36. , Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh An
Giang nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ
luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 115, Điều 118
Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh An
Giang nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh An Giang và bị cáo S cho
Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh An Giang nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục
trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo
có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo
dục các bị cáo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân
sự, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
-- 4 of 10 --
5
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/3/2026, bị hại Trương Văn C có đơn
kháng cáo với nội dung yêu cầu tăng hình phạt đối với các bị cáo S và T; yêu
cầu xem xét lại toàn bộ phần bồi thường thiệt hại; công nhận thu nhập bị mất;
buộc bồi thường đầy đủ thiệt hại thực tế; buộc các bị cáo công khai xin lỗi tại
phiên toà và xử lý các đối tượng liên quan đặc biệt đối tượng Q tránh bỏ lọt tội
phạm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo thừa nhận cấp sơ thẩm đã xét xử bị
cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng tội và xin giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Mỗi bị cáo đã nộp số tiền 5.388.000 đồng bồi thường cho bị hại tại Thi hành án
dân sự tỉnh An Giang.
Bị hại Trương Văn C cho rằng, các bị cáo phạm tội có tổ chức, rượt đuổi
bị hại đến cùng và có tính chất côn đồ. Do đó, giữ nguyên nội dung kháng cáo
kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với các bị cáo S và T. Xử lý các đối tượng
liên quan đặc biệt đối tượng Trần Minh Q tránh bỏ lọt tội phạm.
Về phần trách nhiệm dân sự, bị hại chưa có đủ chứng từ, giấy tờ chứng
minh thiệt hại hàng hóa bị hư hỏng và thu nhập bị mất nên rút lại nội dung
kháng cáo này, khi nào có đủ chứng cứ sẽ khởi kiện thành vụ án dân sự khác về
yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương
tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định
của pháp luật.
Đối với kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng hình phạt đối với các bị cáo S,
T là không có cơ sở chấp nhận. Về phần trách nhiệm dân sự yêu cầu xem xét lại
toàn bộ phần bồi thường thiệt hại, bị hại tự nguyện rút lại nội dung kháng cáo
này. Tại phiên tòa, bị cáo T, S đã nộp số tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình
sự đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo về trách nhiệm dân sự của
bị hại Trương Văn C.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình
sự; không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trương Văn C; Sửa bản án sơ thẩm số
11/2026/HS-ST ngày 18/3/2026, của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh An Giang
về phần trách nhiệm dân sự.
Các bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội
đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-- 5 of 10 --
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của bị hại về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục
kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quyết định của Bản án sơ thẩm:
Khoảng 15 giờ ngày 27/02/2025, sau khi uống bia tại quán của Nguyễn
Văn S ở ấp T, xã B, tỉnh An Giang, Trần Minh Q nhớ lại mâu thuẫn trước đó với
Trương Văn C nên rủ Võ Tuấn E, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn S đi tìm Có để
đánh trả thù, các bị cáo đồng ý. Khi phát hiện Trương Văn C đang điều khiển xe
mô tô trên đường, cả nhóm đuổi theo đến khu vực nhà ông Nguyễn Văn D thuộc
ấp B, xã B thì xảy ra cự cãi, xô xát. Trong lúc Có cầm dao đứng trước hiên nhà
ông D lời qua tiếng lại với nhóm của Q, Q đã dùng một ghế nhựa đánh từ trên
xuống trúng vùng đầu của Có gây thương tích, qua giám định là 2%. Do đó, cấp
sơ thẩm đã xét xử các bị cáo S, T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a
khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng nặng hình phạt và phần trách
nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa bị hại Trương Văn C tự nguyện rút lại nội dung kháng cáo
về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét kháng cáo của bị hại Có yêu cầu tăng hình phạt đối với các bị cáo S
và T, thấy rằng: Nguyên nhân vụ án xuất phát từ mâu thuẫn giữa Trần Minh Q
với bị hại Trương Văn C trước đó. Khi đang uống bia Q rủ S, T và Tuấn E đi tìm
bị hại để đánh trả thù thì tất cả đồng ý. Trong quá trình xảy ra xô xát, bị cáo S
dùng chân đạp trúng người bị hại, bị cáo T chạy đến định đánh bị hại nhưng
chưa gây thương tích. Sau đó, bị hại lấy dao đuổi chém S và T, nên Q dùng ghế
nhựa đánh trúng vùng đầu của bị hại gây thương tích 02%. Như vậy, thương tích
của bị hại được xác định Q gây ra, còn bị cáo S và T là đồng phạm có vai trò thứ
yếu, không trực tiếp gây ra thương tích. Ngoài ra, các bị cáo S, T đều thành khẩn
khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
riêng bị cáo S là người chưa thành niên nên được áp dụng chính sách xử lý đặc
thù theo Luật Tư pháp người chưa thành niên. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ
tính chất, mức độ tham gia của từng bị cáo, áp dụng Điều 17; Điều 58 Bộ luật
-- 6 of 10 --
7
hình sự cá thể hóa hình phạt trong đồng phạm, xử phạt bị cáo T 09 tháng cải tạo
không giam giữ và bị cáo S 06 tháng cải tạo không giam giữ là tương xứng với
tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đảm bảo tính răn đe, giáo
dục và phòng ngừa chung là có căn cứ. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu
cầu của bị hại về việc tăng hình phạt đối với các bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, mỗi bị cáo cung cấp biên lai nộp số tiền
5.388.000 đồng bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử sửa bản
án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự và áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo. Việc sửa bản án
sơ thẩm, trong trường hợp này không có lỗi của cấp sơ thẩm.
Đối với Trần Minh Q sau khi gây án đã bỏ trốn nên bị truy nã. Sau đó, Q
đã ra đầu thú và đã được xét xử sơ thẩm. Tại bản án sơ thẩm số: 17/2026/HS-ST
ngày 16/4/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh An Giang đã tuyên phạt
Trần Minh Q 12 tháng cải tạo không giam giữ. Do đó, bị hại kháng cáo yêu cầu
xử lý Trần Minh Q tránh bỏ lọt tội phạm là không có cơ sở.
[4] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị áp dụng khoản 1
Điều 348. Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng
cáo về trách nhiệm dân sự của bị hại Trương Văn C; áp dụng điểm b khoản 1
Điều 355. ; khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng
cáo của bị hại về hình phạt; sửa bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự là phù
hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị sửa, nên bị hại Trương Văn C không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ việc xét xử
phúc thẩm đối với kháng cáo về trách nhiệm dân sự của bị hại Trương Văn C.
2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 3 Điều 357 Bộ luật tố tụng
hình sự.
-- 7 of 10 --
8
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Trương Văn C về tăng hình phạt.
Sửa bản án sơ thẩm số 11/2026/HS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2026, của Tòa án
nhân dân Khu vực 4, tỉnh An Giang về trách nhiệm dân sự.
3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều
17; Điều 36, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự -
Công an tỉnh A nhận được quyết định thi hành án hình sự.
4. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều
17 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 3 Điều 115,