CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc142/2026/TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 2 năm 2026 về việc “ly hôn” theo quyết
Về tà i sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Theo nội dung đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị đơn Trương Thiện Thanh
T1 trình bày:
Anh T1 đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thảo T đã tình bày
trong đơn khởi kiện.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trương Thiện Thanh T1 mặc dù
đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh T1 có đơn yêu cầu cầu giải quyết vắng
mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh T1 về vấn đề con
chung, tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định đây là vụ án hôn
nhân gia đình về việc “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
khu vực 5 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh T1 vẫn vắng
mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai; Chị T có
đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 1 Điều 288 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt chị T và anh T1.
[2] Về hôn nhân: Chị T và anh T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại
Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre (nay là
phường An Hội, tỉnh Vĩnh Long) vào năm 2015, nên hôn nhân của anh chị là hợp
pháp, được pháp luật bảo vệ. Từ năm 2021 anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đã sống ly
thân từ năm 2021 đến nay. Tòa án cũng đã nhiều lần mở phiên hòa giải để giúp hai
bên hàn gắn tình cảm nhưng anh T1 đều vắng mặt không tham gia hòa giải, đến
khi mở phiên toà xét xử thì anh có nộp đơn yêu cầu giải quyết vắng vắng mặt, điều
này cho thấy anh T1 không có thiện chí hàn gắn, không mong muốn vợ chồng
đoàn tụ. Như vậy có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T1 và
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.