CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđưa vụ án ra xét xử số 18/2026/QĐXXST – HNGĐ, ngày 05 tháng 02 năm 2026 giữa
2
chung sống về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Theo chị P,
nguyên nhân là do anh Bùi Văn T thường xuyên uống rượu, không quan tâm, chăm lo
đến đời sống gia đình. Mặc dù chị đã nhiều lần khuyên nhủ, nhường nhịn để duy trì
hôn nhân nhưng anh T không thay đổi, làm cho tình trạng hôn nhân ngày càng trầm
trọng, đời sống chung không còn hạnh phúc
Nay tự xét thấy cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn
nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh Bùi Văn
T.
Về con chung: Quá trình hôn nhân, chị Phạm Thị P và anh Bùi Văn T có 02 con
chung gồm: Bùi Văn Đ, sinh ngày 15/9/2001 và Bùi Minh T1, sinh ngày 16/7/2003.
Hiện nay các con đã đủ tuổi thành niên, có khả năng lao động và tự lo được cho bản
thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị P trình bày vợ chồng không có tài
sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Bùi
Văn T theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, anh Bùi Văn T
không có bản khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không
đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải; đồng thời cũng không có mặt tham gia phiên tòa nên không có lời
khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị
Phạm Thị P yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Bùi Văn T. Bị đơn có nơi cư trú tại
xã M, tỉnh An Giang. Xét thấy, đây là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm
a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được
sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị P có đơn xin xét xử vắng
mặt. Bị đơn anh Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia
phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.