CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc17/2026/QĐXXST-DS, ngày 31 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số
hết năm 2019 trả đủ. Do đến hạn ông H, bà T2 không trả số tiền vay theo thoả thuận,
2
nên ông Nguyễn Xuân T và bà Lê Thị X gia hạn đến tháng 4/2020 phải trả đủ tiền gốc
và lãi, nhưng ông Nguyễn Văn H và bà Đỗ Thị T2 không trả theo đúng cam kết. Tuy
nhiên từ ngày 06/05/2020 (DL) đến ngày 14/08/2022, ông H, bà T2 đã trả cho ông T,
bà X 03 lần với số tiền là 40.000.000 đồng. Khi trả tiền thì các bên có nói miệng với
nhau là tiền lãi.
Yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Đỗ Thị T2, phải trả cho ông Nguyễn Xuân T,
bà Lê Thị X số tiền vay còn nợ và lãi suất trong hạn theo thoả thuận cụ thể: Tiền gốc
còn lại là 100.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/10/2017 đến ngày 10/3/2026 là
101.419.000 đồng (100.000.000 đồng x 12%/năm x 8 năm 5 tháng). Được khấu trừ số
tiền đã trả 40.000.000 đồng. Tổng gốc và lãi còn lại là 161.419.000 đồng.
Đối yêu cầu của bị đơn bà Đỗ Thị T2 đề nghị Toà án áp dụng thời hiệu đối vụ
án, chúng tôi không chấp nhận.
*Tại bản tự khai, quá trình làm việc tại Toà án bị đơn ông Nguyễn Văn H trình
bày:
Trước năm 2017 tôi mở trang trại nuôi gà thịt, ông Nguyễn Xuân T và bà Lê Thị
X làm đại lý bán cám, giữa chúng tôi thỏa thuận miệng với nhau tôi bỏ tiền xây dựng
trang trại và công chăm sóc, còn ông Nguyễn Xuân T và bà Lê Thị X đầu tư gà giống
và thức ăn, khi thu hoạch các bên tính toán tiền bỏ ra đầu tư, tôi có trách nhiệm trả cho
ông Nguyễn Xuân T và bà Lê Thị X tiền giống gà, tiền cám, quá trình chăn nuôi gà bị
dịch bệnh nên thua lỗ, không thu hồi được vốn. Ngày 28/9/2017 ông Nguyễn Xuân T
và bà Lê Thị X viết giấy vay ép tôi ký nhận nợ số tiền 133.400.000 đồng, lãi suất
1%/triệu/tháng. Thực chất số tiền này là số tiền nợ cám, không phải vay tiền mặt từ
ông Nguyễn Xuân T, bà Lê Thị X.
Đến ngày 28/09/2018 tôi trả được số tiền 33.400.000 đồng, số tiền còn lại
100.000.000 đồng và hẹn đến hết năm 2019 sẽ trả. Tôi xác định số tiền nợ này là tiền
nợ chung của tôi và bà Đỗ Thị T2 trong thời kỳ hôn nhân, nên tôi cùng bà Đỗ Thị T2
cùng có trách nhiệm trả nợ. Trong thời gian từ ngày 06/05/2020 đến ngày 14/08/2022
tôi đã trả cho ông Nguyễn Xuân T và bà Lê Thị X 03 lần với số tiền là 40.000.000
đồng. Mặc dù khi trả không ghi cụ thể trả tiền gốc hay lãi, nhưng tôi xác định các bên
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.