Mục lục - 4 điều ▼
Điều 3. và Điều 4 của Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019
của Bộ Y.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y
quy đị nh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám đị nh pháp y, giám
đị nh pháp y tâm thần, xác đị nh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn
Hồng Phúc  tại thời điểm giám đị nh là: 52%.
- Kết luận khác: Các tổn thương giám đị nh bổ sung phù hợp vật sắc gây
thương tích.
Ngày 10/12/2024, Trung tâm pháp y tỉnh Q có kết luận giám đị nh tổn thương
cơ thể trên người sống số: 418/KLTTCT-TTPY đối với thương tích của Nguyễn
Trung Đ1, kết luận: Sẹo vùng trán – đỉnh phải kích thước (6x0,1)cm: 06%; Sẹo
vùng trán phải kích thước (1x0,5)cm: 03%.
-- 6 of 14 --
7
Tổng tỷ lệ: 09%.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y
quy đị nh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám đị nh pháp y, giám
đị nh pháp y tâm thần, xác đị nh tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn
Trung Đ1 tại thời điểm giám đị nh là: 09%.
- Kết quả khác: Các tổn thương giám đị nh bổ sung phù hợp vật sắc gây
thương tích.
Trong quá trình đi ều tra, anh Nguyễn Trung Đ1 đã rút đơn yêu cầu khởi tố
vụ án hình sự nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q không xem xét hành vi "Cố ý
gây thương tích" của Lâm Nguyễn Thiên A4, Nguyễn Hữu N1, Phạm Quang T3
và Trần Nguyễn Đăng K1. Tuy nhiên hành vi này là hành vi "Cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng chưa đến mức truy cứu
trách nhiệm hình sự", quy đị nh tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị đị nh
144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên Cơ quan CSĐT Công an
tỉnh Q đã có Công văn đề nghị Phòng C2 - Công an tỉnh Q ra Quyết đị nh xử phạt
hành chính đối với Lâm Nguyễn Thiên A4, Nguyễn Hữu N1, Phạm Quang T3 và
Trần Nguyễn Đăng K1 về hành vi gây thương tích cho anh Nguyễn Trung Đ1.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2025/HS-ST ngày 26/11/2025, Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định: tuyên bố các bị cáo Huỳnh Tấn D, Phạm
Lê N, Nguyễn Tuấn K phạm tội “Giết người”; các bị cáo Trần Nguyễn Đăng K1,
Phạm Quang T3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 15. ; Điều 17; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2017; khoản 2 Điều 119, khoản 3 Điều 120 Luật Tư pháp người chưa thành
niên;
- Xử phạt bị cáo Phạm Lê N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết
người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án,
được trừ thời gian tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến ngày 22/01/2025.
Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 15. ; Điều 38; Điều 54; Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2017; khoản 4 Điều 119, khoản 3 Điều 120 Luật Tư pháp người chưa thành
niên;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 03 (ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 15. , 17; Điều 38; Điều 54, Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn D 02 năm 06 tháng tù về tội “Giết người”. Thời
hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án, được trừ thời
gian tạm giam từ ngày 16/12/2024 cho đến ngày 17/02/2025 và từ ngày 05/5/2025
đến ngày 27/10/2025;
-- 7 of 14 --
8
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều
17 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 119 Luật
Tư pháp người chưa thành niên;
- Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Đăng K1 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật
tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi
hành án.
- Xử phạt bị cáo Phạm Quang T3 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công
cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết đị nh về trách nhiệm hình sự đối với các
bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy đị nh
của pháp luật.
Ngày 09/12/2025, bị cáo Phạm Lê N kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung
xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo;
Ngày 09/12/2025, bị cáo Nguyễn Tuấn K và người đại diện hợp pháp của bị
cáo là ông Nguyễn Tuấn A và bà Nguyễn Thị O kháng cáo bản án sơ thẩm với
cùng nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo;
Ngày 09/12/2025, bị cáo Huỳnh Tấn D kháng cáo bản án sơ thẩm với nội
dung x