CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc74/2026/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2026 giữa:
đến ngày 12/02/2024), lãi suất 21%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục
đích vay phục vụ nhu cầu đời sống, hợp đồng vay không tài sản bảo đảm.
Quá trình vay ông Đ đã trả cho Ngân hàng được số tiền gốc 80.870.656 đồng, trả lãi
đến ngày 28/3/2023 với số tiền 56.861.877 đồng, rồi ngưng trả vốn và lãi đến nay. Ông Đ
đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ khoản vay trên nên chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 12/3/2023.
Tính đến ngày 31/3/2026, ông Đ còn nợ số tiền gốc 40.929.000 đồng, lãi trong hạn
30.539.046 đồng, lãi quá hạn 15.269.523 đồng, tổng cộng gốc và lãi tính tròn 86.737.000
đồng.
2
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Đ trả nợ tại hợp đồng tín dụng nói trên tính đến
ngày 31/3/2026 với số tiền gốc 40.929.000 đồng, lãi trong hạn 30.539.046 đồng, lãi quá hạn
15.269.523 đồng, tổng cộng gốc và lãi tính tròn 86.737.000 đồng. Kể từ ngày 01/4/2026,
ông Đ còn phải tiếp tục chịu lãi phát suất sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi
thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và
căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa
hôm nay bị đơn ông Đ vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ
luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Đ.
[2] Về nội dung khởi kiện của Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) đối với ông Trịnh
Chí Đ:
Về giao dịch hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với ông Đ như đại diện Ngân hàng
trình bày là thực tế có diễn ra, điều này phù hợp với các giấy tờ do Ngân hàng cung cấp như
Hợp đồng tín dụng ngày 06/01/2020 và các giấy tờ khác có tại hồ sơ. Hợp đồng tín dụng nói
trên hai bên xác lập và ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức, nội dung và mục đích của
hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực
pháp luật và hai bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo cam kết của hợp đồng. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bên vay là ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền
vay cho Ngân hàng, đồng thời hợp đồng tín dụng đến nay đã hết thời hạn vay nhưng ông Đ
không trả hết nợ gốc và lãi tiền vay cho Ngân hàng, do ông Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.