CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcra xét xử số: 35/2017/QĐXX-ST ngày 19 tháng 5 năm 2017 giữa các đương sự:
2
hiểu chị và anh Trương Minh P có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký
kết hôn. Sau khi tổ chức đám cưới thì chị và anh P chung sống tại nhà cha mẹ
ruột chị tại ấp T, xã B, huyện M (nay là ấp T, xã B, thị xã M) tỉnh Hậu Giang.
Anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm,
anh P không quan tâm, chăm sóc cho chị. Chị và anh P đã nhiều lần tự hòa giải,
hàn gắn lại nhưng không có kết quả. Chị và anh P đã ly thân từ tháng 01/2017
cho đến nay. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và không thể kéo
dài nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị H và anh P có một con chung cháu tên Nguyễn
Phương N (nữ), sinh ngày 08/6/2015, hiện nay cháu N do chị nuôi dưỡng, khi ly
hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu anh P cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại văn bản ngày 12/5/2017, quá trình hòa giải và tại phiên tòa bị đơn anh
Trương Minh P trình bày: Thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Bé H
về thời gian kết hôn, và việc không có đăng ký kết hôn là đúng. Sau ngày cưới
anh và chị H chung sống tại nhà cha mẹ ruột chị H tại ấp T, xã B, huyện M (nay
là ấp T, xã B, thị xã M) tỉnh Hậu Giang. Anh chị chung sống đến tháng 01/2017
thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị H không tôn trọng
anh, chị H không lo lắng cho gia đình, thường xuyên cự cải. Anh chị đã nhiều
lần hàn gắn cuộc sống gia đình nhưng không có kết quả. Đến tháng 01/2017 thì
anh và chị H đã ly thân. Nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh thì anh đồng ý.
Về con chung: Anh và chị H có một con chung tên Nguyễn Phương N
(nữ), sinh ngày 08/6/2015, con chung hiện nay do chị H nuôi dưỡng, khi ly hôn
anh đồng ý giao cháu N cho chị H nuôi dưỡng anh chưa phải cấp dưỡng nuôi
con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.