CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcphiên toà số: 03/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2026 giữa:
2
thân, chị T xét thấy không còn tình cảm với anh T1 nữa nên chị T quyết định ly hôn
với anh T1. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung không có.
Tại phiên tòa, chị Danh Thị Ngọc T yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân yêu
cầu được ly hôn với anh Lý Văn T1. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung
không có nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị T không trình bày
gì thêm.
* Đối với bị đơn anh Lý Văn T1 không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết
vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật
nhưng anh T1 không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án
không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm
quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu
thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và
Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và
nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối
với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều
vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử về hôn nhân chấp nhận cho chị Danh Thị
Ngọc T được ly hôn với anh Lý Văn T1. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung
chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và
toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Chị Danh Thị Ngọc T yêu cầu ly hôn với anh Lý Văn T1. Bị đơn
có địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp T, xã Đ, tỉnh A nên Tòa án nhân dân khu vực 5 –
An Giang xác định quan hệ pháp luật “ly hôn” và thụ lý, giải quyết là đúng theo quy
định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.