CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđưa vụ án ra xét xử số: 44/2026/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2026, giữa
2
40.000.000đồng; đến ngày 07/4/2017 âm lịch vợ chồng ông cho bà Nguyễn Thị
T vay tiếp số tiền 20.000.000đồng. Tổng cộng bà Nguyễn Thị T vay tiền của vợ
chồng ông 02 lần, với tổng số tiền là 60.000.000đồng. Khi vay tiền bà T có viết
giấy vay tiền giao cho vợ chồng ông. Số tiền 60.000.000đồng mà bà T đã vay
của vợ chồng ông là nghĩa vụ của cá nhân bà T vì lúc vay tiền chỉ có một mình
bà T đến vay và nhận tiền, lúc bà T vay tiền thì ông được biết là bà T đã ly hôn
chồng.
Khi vay tiền, giữa vợ chồng ông và bà T thoả thuận lãi suất cho vay là
1,5%/tháng. Tuy nhiên, từ khi vay tiền đến nay bà T chưa trả cho vợ chồng ông
số tiền nợ gốc và cũng chưa trả khoản tiền lãi nào. Vợ chồng ông đã nhiều lần
yêu cầu bà T trả nợ nhưng bà T luôn né tránh, không chịu trả và hiện nay đã bỏ
đi khỏi địa phương, không báo nơi cư trú mới cho vợ chồng ông biết. Vì vậy,
ông yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ trả cho
vợ chồng ông (Võ Văn L và Trần Thị Đ) số tiền 60.000.000đồng, ông không yêu
cầu bà T trả lãi.
* Tại bản tự khai đề ngày 20/01/2026, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Trần Thị Đ trình bày:
Bà là vợ của ông Võ Văn L. Ngày 07/01/2017 âm lịch vợ chồng bà có cho
bà Nguyễn Thị T vay 40.000.000đồng; đến ngày 07/4/2017 âm lịch vợ chồng bà
tiếp tục cho bà Nguyễn Thị T vay 20.000.000đồng. Tổng cộng bà T vay tiền của
vợ chồng bà 02 lần, với tổng số tiền là 60.000.000đồng. Toàn bộ số tiền vay của
vợ chồng bà là tiền cá nhân bà T vay, không liên quan đến người khác. Khi vay
tiền thì giữa vợ chồng bà và bà T thoả thuận lãi suất cho vay là 1,5%/tháng. Tuy
nhiên, từ khi vay tiền đến nay bà T chưa trả cho vợ chồng bà số tiền nợ gốc và
cũng chưa trả khoản tiền lãi nào. Vì vậy, bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
ông Võ Văn L, yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa
vụ trả cho vợ chồng bà số tiền 60.000.000đồng, bà không yêu cầu bà T trả lãi.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và
các văn bản tố tụng khác cho bị đơn bà Nguyễn Thị T nhưng bà T không có văn
bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không cung cấp
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.