CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc1512/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
chị. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi cháu M, không yêu cầu cấp dưỡng. Đối với
cháu T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Chị xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2
Về nợ chung: Chị khai không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.
- Tại bản tự khai, anh Nguyễn Văn T trình bày:
Về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn, nơi đăng ký kết hôn và mâu thuẫn
vợ chồng đúng như chị H trình bày. Nay chị H yêu cầu ly hôn anh đồng ý.
Về con chung: Anh xác định có 02 con chung tên Nguyễn Hà Thanh T1, sinh
ngày 03/10/2003; Nguyễn Nhật M, sinh ngày 26/6/2012, hiện 02 cháu đang sống với
chị H. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu M cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh không
cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Anh xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về nợ chung: Anh khai không nợ ai và cũng không ai nợ lại anh chị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Việt H, anh Nguyễn Văn T có nộp Đơn yêu
cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự
theo quy định tại các Điều 227, 228 củ a Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Việt H và anh Nguyễn Văn T chung sống
vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà
Mau vào ngày 09/7/2002 tại số F, quyển số 04 nên hôn nhân hợp pháp và được pháp
luật công nhận bảo vệ. Quá trình chung sống theo chị H trình bày thời gian đầu hạnh
phúc, đến năm 2020 giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm
trong cuộc sống, tính tình không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn
ngày càng phát sinh vợ chồng không khắc phục được. Chị xác định không còn tình
cảm, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hàn gắn tình cảm nên chị yêu
cầu ly hôn anh T. Đối với anh T cũng thống nhất yêu cầu chị H, đồng ý ly hôn, vì
vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, cho anh chị được ly hôn.
[3] Về con chung: Chị H, anh T xác định có 02 con chung tên Nguyễn Hà
Thanh T1, sinh ngày 03/10/2003; Nguyễn Nhật M, sinh ngày 26/6/2012, hiện 02
cháu đang sống với chị H. Khi ly hôn, anh chị thống nhất giao cháu M cho chị H
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.