CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúchoãn phiên toà số 54/2026/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2026, giữa các
ngày 22/8/2012 mới đi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh
Thanh Hoá (nay là xã M, tỉnh Thanh Hoá). Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà
thuận đến năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình
2
vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Ngoài ra,
anh V còn hành hung chị. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả.
Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 05/2025 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai.
Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết
cho chị được ly hôn anh V.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Văn C, sinh ngày
03/8/2009 và cháu Phạm Song T, sinh ngày 19/7/2017. Nếu ly hôn, chị Y có
nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T;
giao cháu C cho anh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị Y không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Văn V để
làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Y
nhưng anh V không có mặt nên không có lời khai của anh V và các bên không
thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký
phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị Y đã thực hiện đầy
đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh V không
thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Đề nghị
HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định của BLTTDS. Về giao
nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp
luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35;
điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 147; điểm a và b khoản 2 Điều 227;
Điều 228. ; khoản 1 Điều 273 BLTTDS; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều
57; Điều 69; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6; Điều 9; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Y được ly hôn anh Phạm Văn V. Về con chung: Giao cháu Phạm Văn C, sinh ngày 03/8/2009 cho anh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Phạm Song T, sinh ngày 19/7/2017 cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung Về tài sản: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra 3 tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định: [1] Về tố tụng: Chị Phạm Thị Y khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Phạm Văn V, nơi cư trú tại Làng N, xã M, tỉnh Thanh Hoá nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh V không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh V theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS. Anh V đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh V đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS. Chị Phạm Thị Y đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Phạm Văn V lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh V vẫn vắng mặt mà không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị Y, anh V. [2] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Y và anh Phạm Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 22/8/2012 tại Uỷ ban nhân dân xã M, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 05/2025 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Về phía anh V, biết chị Y làm đơn xin ly hôn và Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh V lên làm việc để anh V được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh V đều không có mặt, thể hiện anh V không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ chị Y, anh V đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Y được ly hôn anh V. [3] Về con chung: Chị Y và anh V có 02 con chung. Xét thấy, cháu C có nguyện vọng muốn được ở với bố, cháu T có nguyện vọng muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Ngoài ra, một người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu sẽ không đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho các cháu được. Giao cho mỗi người trực tiếp nuôi một cháu là phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện thực tế. Để đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu, cũng như theo nguyện vọng của các cháu. Chấp nhận yêu cầu của chị Y: giao cháu C cho anh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu T cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. [4] Về tài sản: Chị Y không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. 4 [5] Về án phí: Chị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Y được ly hôn anh Phạm Văn V.
2. Về con chung: Chị Phạm Thị Y và anh Phạm Văn V có 02 con chung là
cháu Phạm Văn C, sinh ngày 03/8/2009 và cháu Phạm Song T, sinh ngày 19/7/2017. Giao cháu C cho anh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu T cho chị Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Y, anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Chị Y không yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị Y phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án
phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá, theo biên lai số 0001390 ngày 27/02/2026. Chị Y đã nộp đủ tiền án phí. Án xử công khai sơ thẩm. Chị Y, anh V có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND cùng cấp; - UBND xã Minh Sơn; - THADS cấp tỉnh; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Lưu HSVA; Văn thư. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thịnh
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.