CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 25 tháng 11 năm 2025 và các lời khai
Điều 81. , Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Phùng Văn H. Giao hai con chung tên Phùng Thị Quỳnh Anh, sinh ngày 20/12/2010 và Phùng Đức Duy, sinh ngày 03/06/2013 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Hùng có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hoa mỗi tháng số tiền là 2.000.000 đồng/con x 02 con = 4.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị H và anh Phùng Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. 3 Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Giấy chứng nhận kết hôn, bản sao căn cước công dân, bản sao giấy khai sinh của con; Bản tự khai; Biên bản xác minh tại gia đình và chính quyền địa phương phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phùng Văn H có nơi cư trú tại phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Phùng Văn H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Phùng Văn H . [2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Phùng Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoàng Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nay là phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng vào ngày 19/12/2008 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo tài liệu xác minh tại địa phương và lời khai của các đương sự thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, cuộc sống chung vợ chồng không thống nhất. Mâu thuẫn vợ chồng chị Hoa và anh Hùng đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn chị Hoa và anh Hùng đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay, không quan tâm gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án anh Hùng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Hùng đều vắng mặt không có lý do, thể hiện anh Hùng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Hoa và không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Phùng Văn H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Phùng Văn H . [3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phùng Văn H có 02 con chung tên Phùng Thị Quỳnh Anh, sinh ngày 20/12/2010 và Phùng Đức Duy, sinh ngày 03/06/2013. Xét chị Hoa hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và vẫn đảm bảo về mọi mặt. Con chung trên 7 tuổi có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao 02 con chung tên Phùng Thị Quỳnh Anh, sinh ngày 20/12/2010 và Phùng Đức Duy, sinh ngày 03/06/2013 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi 4 dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với các quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. [4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị H yêu cầu anh Phùng Văn H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Hoa mỗi tháng số tiền là 2.000.000 đồng/con x 02 con = 4.000.000 đồng. Xét yêu cầu của chị Hoa là có căn cứ và phù hợp với các quy định của pháp luật nên buộc anh Phùng Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị H mỗi tháng số tiền là 2.000.000 đồng/con x 02 con = 4.000.000 đồng, kể từ tháng 05/2026 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. [5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phùng Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết. [6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. anh Phùng Văn H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4
Điều 147. ; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1
2
Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nay là phường Thiên Hương, thành phố Hải
Phòng ngày 19/12/2008. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến
năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hoà
hợp, cuộc sống chung không thống nhất, vợ chồng thường xảy ra cãi mắng lẫn
nhau. Chị Hoa và anh Hùng đã sống ly thân nhau từ 2019 đến nay. Nay chị Hoa
nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên
đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phùng Văn H. Chị và anh
Phùng Văn H có 02 con chung tên Phùng Thị Quỳnh Anh, sinh ngày 20/12/2010
và Phùng Đức Duy, sinh ngày 03/06/2013. Hiện hai con chung đang ăn ở, sinh
sống cùng chị Hoa. Khi ly hôn chị Hoa xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con
chung và yêu cầu anh Hùng có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 02 con chung cùng chị
mỗi tháng số tiền là 2.000.000 đồng/con x 02 con = 4.000.000 đồng. Chị và anh
Hùng không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Bị đơn anh Phùng Văn H có nơi cư trú tại Tổ dân phố Hoàng Động 2,
phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng. Quá trình giải quyết vụ án anh Phùng
Văn H không hợp tác, cố tình trốn tránh. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ
Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và các
văn bản tố tụng khác cho anh Phùng Văn H nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ
hai anh Phùng Văn H vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày về
yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Nguyễn Thị H.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố
tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo
đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định và việc chấp hành pháp luật tố tụng của
các đương sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn
cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều
227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56,
Điều 56. , Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Phùng Văn H
2. Về con chung: Giao hai con chung tên Phùng Thị Quỳnh Anh, sinh ngày
20/10/2010 và Phùng Đức Duy, sinh ngày 03/6/2013 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 5
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phùng Văn H có nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị H mỗi tháng số tiền là 2.000.000 đồng/con x 02 con = 4.000.000 đồng, kể từ tháng 05/2026 cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Kể từ ngày chị Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nếu anh Phùng Văn H chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Phùng Văn H không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007761 ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Phùng Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phùng Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận: - Đương sự; - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND khu vực 1 - Hải Phòng; - Phòng THADS khu vực 1 - Hải Phòng; - UBND phường Thiên Hương, TP. Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huân 6
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.