CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 23 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn và nuôi con”, theo Thông báo thay đổi
N trình bày: Anh chị đăng ký kết hôn ngày 17/11/2022 tại Ủy ban nhân dân xã N
(nay là xã T). Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan
điểm, sống không hợp nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Gia đình hai bên đã hàn
gắn nhưng không thành, anh chị đã sống ly thân khoảng một năm nay. Nay tình cảm
không còn, không thể sống chung với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết
ly hôn.
Anh chị có 01 người con chung là Trần Quốc B, sinh ngày 30/01/2023, hiện
đang sống chung chị N. Chị N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con, không yêu
cầu anh N1 cấp dưỡng. Chị N trình bày không tài sản, không nợ chung nên không
yêu cầu giải quyết.
[2]- Bị đơn là anh N1 vắng mặt trong suốt thời gian Toà án thụ lý giải quyết
nên không có lời trình bày tại phiên tòa.
[3]- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và
Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực
hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn
đã được triệu tập 02 lần để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không lý do nên Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227, 228 của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh N1 và
giao con cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai yêu cầu gì khác nên đề
nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Chị N yêu cầu ly hôn nên Tòa án thụ lý đơn giải quyết theo khoản 1 Điều
53 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị N yêu cầu được ly hôn và yêu cầu giải quyết
quyền nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn và nuôi con”.
Nguyên đơn có văn bản yêu cầu xét xử mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ
nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo Điều
207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ
luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
[2] Về hôn nhân: Năm 2022 anh N1 và chị N đăng ký kết hôn đúng quy định
của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống,
anh chị xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân khoảng 01 năm nay.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.