CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxét xử số 23/2026/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2026, giữa các đương
xác định không thể hàn gắn lại được. Bà yêu cầu những vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Lương Thanh P.
2
Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà không có con chung
nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông bà không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông bà không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lương Thanh P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ
án, không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh gửi
cho Tòa án
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị M
khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lương Thanh P, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp
D, xã M, tỉnh Tây Ninh nên được xác định là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly
hôn”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Tây
Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 và khoản 2 Điều 1
Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội.
[1.2] Về việc giải quyết vắng mặt: Nguyên đơn bà M có đơn xin xét xử
vắng mặt và bị đơn ông P vắng mặt không có lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét
xử vắng mặt ông P và bà M theo đú ng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[1.3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn
vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét
xử là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.