CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcHNGĐ, ngày 09 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
2
không đạt được, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục xây dựng gia đình hạnh
phúc nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là:
Trương Trần Nhật T – sinh ngày 11/8/2011 và Trương Trần Ái V – sinh ngày
13/4/2015, con chung hiện đang sống cùng chị.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Nguyện vọng: Về quan hệ hôn nhân, chị Trần Thị L yêu cầu Tòa án giải
quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Thành Đ; Về con chung, chị yêu cầu
được nuôi 02 con chung là Trương Trần Nhật T – sinh ngày 11/8/2011 và
Trương Trần Ái V – sinh ngày 13/4/2015 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con;
Về tài sản chung, nợ chung chị L xác định vợ chồng không có tài sản chung và
cam kết vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 12/12/2025, Bị đơn anh Trương Thành Đ hoàn toàn
thống nhất với lời trình bày của chị L về thời gian hôn nhân, về con chung, về
tài sản chung, nợ chung. Anh Đ xác định vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng
10 năm, nay chị L yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L.
Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là:
Trương Trần Nhật T – sinh ngày 11/8/2011 và Trương Trần Ái V – sinh ngày
13/4/2015, hai cháu hiện tại đang sống cùng với chị L.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Nguyện vọng: Về quan hệ hôn nhân, anh Trương Thành Đ đồng ý ly hôn
với chị Trần Thị L; về con chung, anh Đ đồng ý giao con chung là Trương Trần
Nhật T – sinh ngày 11/8/2011 và Trương Trần Ái V – sinh ngày 13/4/2015 cho
chị L tiếp tục nuôi, anh không cấp dưỡng nuôi con nhưng việc anh cho tiền hoặc
hiện vật thì yêu cầu phía chị L không được cấm cản và được thăm các con theo
quy định; Trong quá trình sống chung không được bất kỳ hành động, lời lẽ nào
để gây chia rẽ tình cha con, không bạo lực gia đình; Về tài sản chung, nợ chung:
anh Đ xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.