Mục lục - 4 điều ▼
Điều 28. , Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều
227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, điểm d khoản
1 Điều 469, điểm a khoản 5 Điều 477, Điều 478, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 57, khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82,
Điều 83. Luật hôn nhân gia đình; Điều 3, khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số
01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao; Điểm b Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 1 Điều 24,
khoản 7 Điều 26, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ
phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn
Thị Hải Y và anh Nguyễn Duy C.
- Về con chung và cấp dưỡng: Con chung Nguyễn Thị Khánh L, sinh
ngày 24/10/2001 đã đủ tuổi trưởng thành nên miễn xét. Ghi nhận sự thỏa thuận
của các đương sự về việc giao con chung Nguyễn Duy Gia K, sinh ngày
06/8/2008 cho chị Nguyễn Thị Hải Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi
trưởng thành (đủ 18 tuổi). Trong thời gian chị Y đang lao động tại nước ngoài
-- 3 of 8 --
4
cháu Gia K tiếp tục sống cùng dì Nguyễn Thị Kiều O. Anh C có quyền, nghĩa vụ
thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở. Về cấp dưỡng
nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hải Y, anh Nguyễn Duy C mỗi người phải
chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của Đại diện Viện
kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Hải Y hiện đang lao
động tại Ba Lan. Theo thông tin xuất nhập cảnh tại Công văn số 403/QLXNC –
Đ1, ngày 06/3/2026 của phòng Q - Công an tỉnh H xác nhận chị Nguyễn Thị Hải
Y, sinh ngày 03/10/1981, Số Hộ chiếu Q00790311 đã xuất cảnh gần nhất ngày
06/3/2026 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Bị đơn anh Nguyễn Duy C
đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi cư trú tại Thôn L, xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó,
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 3 theo quy định
tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hải Y
yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Duy C và yêu cầu được nuôi con chung do đó
xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản
1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về việc vắng mặt các đương sự: Chị Nguyễn Thị Hải Y là công dân
Việt Nam hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài quá trình giải quyết vụ
án chị đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và chị có đơn xin xét xử
vắng mặt. Anh Nguyễn Duy C cũng có đơn xin xét xử. Vì vậy, căn cứ khoản 1
Điều 227. , khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục
chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Nguyễn Duy C
đã tuân thủ các điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 13/10/2000 tại
UBND xã Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (Nay là UBND phường Y, tỉnh Ninh
Bình). Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì
đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì
chị Y đi xuất khẩu lao động, vợ chồng sống cách xa nên bắt đầu phát sinh mâu
thuẫn, đến nay không còn quan tâm, liên lạc gì với nhau.Vợ chồng đã sống ly
thân từ năm 2019 cho đến nay, cả hai đều xác nhận tình cảm vợ chồng không
còn, nên đều thống nhất giải quyết ly hôn để hai bên ổn định cuộc sống.
-- 4 of 8 --
5
Từ yêu cầu của các đương sự và trên cơ sở tình trạng hôn nhân thực tế,
Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51,
Điều 266. , Điều 271, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm a khoản 5 Điều
477, Điều 478, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 55,