Mục lục - 3 điều ▼
Điều 91. , Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7; Điều 8 Nghị
quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu của V1 buộc bà Nguyễn Ngọc Thúy K có nghĩa vụ trả
tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/5/2026 là 178.254.664 đồng đồng và lãi phát
sinh kể từ ngày 23/5/2026 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được thỏa
thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và
sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ1 (được cập nhật vào hệ thống của V1
theo Hợp đồng tín dụng thẻ số 341-P-5890930 ngày 07/9/2023), Hội đồng xét
xử xét thấy:
V1 cho rằng, ngày 07/9/2023, V1 có cho bà Nguyễn Ngọc Thúy K vay
tiền bằng hình thức mở thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn
mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ1
(được cập nhật vào hệ thống của V1 theo Hợp đồng tín dụng thẻ số 341-P-
5890930 ngày 07/9/2023); lãi suất cho vay là 47.88%/năm. Sau khi mở thẻ, bà
Nguyễn Ngọc Thúy K sử dụng tổng cộng 73.746.400 đồng, tính đến ngày
07/02/2024, đã trả nợ cho V1 số tiền nợ gốc là 3.995.050 và tiền lãi là 8.222.765
đồng thì không tiếp tục thanh toán nợ cho V1. Do đó, V1 yêu cầu bà Nguyễn
Ngọc Thúy K phải trả cho V1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/5/2026 là
178.254.664 đồng (trong đó: vốn gốc là 69.751.350 đồng và tiền lãi tính đến
ngày 22/5/2026 là 108.503.314 đồng) và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa
thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và
sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ1 (được cập nhật vào hệ thống của V1
theo Hợp đồng tín dụng thẻ số 341-P-5890930 ngày 07/9/2023) kể từ ngày
23/5/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ
Bà Nguyễn Ngọc Thúy K vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
-- 6 of 9 --
7
Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, có đủ căn cứ xác định
giữa V1 với bà Nguyễn Ngọc Thúy K có xác lập Giấy đề nghị kiêm hợp đồng
cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng
Đ1 (được cập nhật vào hệ thống của V1 theo Hợp đồng tín dụng thẻ số 341-P-
5890930 ngày 07/9/2023); bà Nguyễn Ngọc Thúy K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ
từ ngày 07/02/2024; hiện nay, bà Nguyễn Ngọc Thúy K còn nợ lại V1 số tiền
vốn gốc là 69.751.350 đồng và lãi phát sinh như lời trình bày của V1.
Xét thấy, việc xác lập Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng
thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử trên cơ sở tự
nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp
luật, là hợp đồng hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, đã làm phát
sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng đã giao kết. Trong quá trình
thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 07/02/2024, bà Nguyễn Ngọc Thúy K còn nợ
lại Ngân hàng số tiền vốn gốc là 69.751.350 đồng và lãi phát sinh nhưng không
thanh toán nợ theo thỏa thuận cho đến nay, làm phát sinh nợ quá hạn nên đã vi
phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, việc V1 yêu cầu bà Nguyễn Ngọc Thúy K có
nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi tính đến ngày 22/5/2026 với tổng số tiền 178.254.664
đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 23/5/2026 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi
suất được thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng
thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng Đ1 (được cập nhật
vào hệ thống của V1 theo Hợp đồng tín dụng thẻ số 341-P-5890930 ngày
07/9/2023) là phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã
giao kết; Điều 280; Điều 357; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 91. , Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7; Điều 8 Nghị
quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí:
[3.1] Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên V1 không phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[3.2] Bà Nguyễn Ngọc Thúy K có nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện
của Ngân hàng nên bà Nguyễn Ngọc Thúy K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
đối với số tiền phải trả cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố
tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án
theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: