CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 22 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
chuyện nhỏ nhặt để xây dựng gia đình nhưng bà N không quan tâm đến chồng.
Hiện tại do cảm thấy không thể hàn gắn tình cảm, hôn nhân lâm vào tình trạng
2
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt
được nên ông V yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà N.
Về con chung: Ông, bà không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông V xác định không có nên không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Về phía bà Nguyễn Thị N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập
nhưng bà N không đến Tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai, vắng mặt
bị đơn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Ông Huỳnh Tuấn V và bà Nguyễn Thị N có đăng ký kết
hôn nên xác định hôn nhân hợp pháp thuộc Luật Hôn nhân và Gia đình điều
chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn bà Nguyễn Thị N có
địa chỉ cư trú tại ấp Đ, xã Đ, thành phố Cần Thơ nên vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ theo quy định tại khoản 1
Điều 28. , điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng
dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị N vắng mặt không rõ lý do dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật. [2] Về nội dung vụ án: [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn ông Huỳnh Tuấn V, nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách của vợ chồng không còn phù hợp với nhau, dẫn đến vợ chồng không còn tiếng nói chung, đời sống vợ chồng không còn hòa hợp, bà N không còn sống chung với ông V nhiều năm nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập nhưng bà N không đến Tòa án chứng tỏ bà N cũng không còn tha thiết, quan tâm đến quan hệ hôn nhân với chồng là ông V. Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương quan tâm và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông V, bà N đã trầm trọng không thể vận động đoàn tụ do ông bà không còn sự yêu thương, tin tưởng nhau trong cuộc sống nên có thể thấy, hôn nhân giữa ông V, bà N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu ly hôn của ông V là có cơ sở chấp nhận. 3 [2.2] Về con chung: Ông V, bà N không có con chung nên không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Do xét xử vắng mặt bị đơn và nguyên đơn xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết. Tách phần tài sản chung và nợ chung ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh. [3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ : - Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). - Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Tuấn V và bà
Nguyễn Thị N, cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Huỳnh Tuấn V được ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị N. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra để xem xét giải quyết. Tách ra giải quyết thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu và có đủ cơ sở chứng minh.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Huỳnh Tuấn V phải nộp 300.000
đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí ông V đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010466 ngày 24/11/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí. Ông V đã nộp xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm. 4 Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND khu vực 4 – Cần Thơ; - THADS thành phố Cần Thơ; - UBND xã Đông Hiệp, TP. Cần Thơ; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Trung Hậu
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.