Số: 083188005012
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđịnh hoãn phiên tòa số 79/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2026 giữa các
2
Về hôn nhân: Bà và ông Bùi Quang M tự nguyện kết hôn, sau đó đăng ký
kết hôn vào ngày 14/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre
(nay là xã C, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm
2018 thì phát sinh mâu thuẫn do ông M không có chính kiến, mọi việc đều nghe
theo lời mẹ và ghen tuông vô cớ, bản thân bà và mẹ chồng cũng không hòa hợp
dẫn đến mâu thuẫn ngày càng tăng. Khoảng tháng 8 năm 2018, ông M đuổi bà đi
và vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà nhận thấy đôi bên đã không còn tình
cảm và không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông M.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông M có 01 con chung tên Bùi
Quốc M1 sinh ngày 01/10/2012 hiện đang sống chung với ông M. Khi ly hôn, bà
đồng ý giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi
con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trì nh tố tụng vụ án, bị đơn ông Bùi Quang M không có văn bản
thể hiện ý kiến của mì nh về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Huyền T và
không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải.
* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng : Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án
xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng quan hệ tranh
chấp. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh
Long theo qui định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau
khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật: xác
định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, xác minh tình trạng
mâu thuẫn giữa vợ chồng, tổ chức phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải giữa
các đương sự, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo qui định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân
theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và việc
xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình
được quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn vắng
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.