CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 16 tháng 04 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân, Khu vực 10 - TH
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
chị Lang Thị C trình bày: Chị và anh Vi Văn T tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết
hôn ngày 29/08/2014 tại UBND xã XL, huyện TX (Nay là xã XC) tỉnh TH. Sau
khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc yêu thương nhau, nhưng đến
đầu tháng 5 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ
chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống gia đình không hòa hợp, dẫn đến cãi vã
to tiếng và xúc phạm lẫn nhau, khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình hòa
giải nhiều lần nhưng không có kết quả, từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay chị và
anh T sống ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay chị xét thấy
tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án
giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vi Văn T.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh T có 02 con chung là Vi Gia
H; sinh ngày 20/10/2014 và Vi Gia L; sinh ngày 14/06/2019. Ly hôn chị đề nghị
Tòa án giải quyết giao con chung Vi Gia H cho chị, giao con chung Vi Gia L cho
anh Vi Văn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, chị
không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Vi Văn T để làm
bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị C nhưng
anh T không có mặt nên không có lời khai của anh T và các bên không thống nhất
được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - TH phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Vi Văn T không thự hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, 35 khoản 4
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.