🇬🇧 Original document is in Vietnamese
Vietnamese laws are officially issued in Vietnamese only. The body below is the original. Use Chrome / Edge / Safari built-in translation, or:
Quyết định số 132/2025/QĐ-UBND Ban hành Quy định xét, công nhận sáng kiến và các biện pháp thúc đẩy hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcĐiều 3. Điều khoản thi hành 1. Quyết định này có hiệu lực từ ngày 10 tháng 11 năm 2025. 2. Quyết định số 28/2023/QĐ-UBND ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Ủy ban nhân dân Tỉnh ban hành Quy định xét, công nhận sáng kiến và các biện pháp thúc đẩy hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hết hiệu lực kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực. 3. Những trường hợp đã đề nghị xét công nhận sáng kiến và khả năng nhân rộng của sáng kiến cấp Tỉnh trước khi Quyết định này có hiệu lực thì áp dụng các quy định tại Quyết định này để tiếp tục thực hiện.
Điều 5. của Nghị định số 13/2012/NĐ-CP và khoản 1
Điều 5. của Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN .
Điều 10. Sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu công nhận sáng kiến 1. Trước khi cơ sở có thẩm quyền công nhận sáng kiến ra thông báo từ chối nhận đơn; Thông báo công khai kết quả công nhận sáng kiến; Quyết định công nhận sáng kiến và cấp Giấy chứng nhận sáng kiến, tác giả có thể chủ động hoặc theo yêu cầu của cơ sở đó đề nghị sửa đổi, bổ sung đơn. 2. Việc sửa đổi, bổ sung không được làm thay đổi bản chất của giải pháp nêu trong đơn yêu cầu công nhận sáng kiến ban đầu. Nếu việc sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu công nhận sáng kiến làm thay đổi bản chất sáng kiến thì tác giả phải nộp đơn mới và mọi thủ tục được tiến hành lại từ đầu. 3. Việc sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu công nhận sáng kiến do tác giả chủ động thực hiện hoặc theo yêu cầu của cơ sở có thẩm quyền tiếp nhận đơn và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung sửa đổi, bổ sung.
Điều 11. Tiếp nhận và xem xét tính hợp lệ của đơn yêu cầu công nhận sáng kiến 1. Cơ sở quy định tại
Điều 8. Quy định này khi nhận được yêu cầu công nhận sáng kiến phải có trách nhiệm tiếp nhận và xem xét đơn yêu cầu công nhận sáng kiến theo quy định tại
Điều 6. Nghị định số 13/2012/NĐ-CP và khoản 1
Điều 6. Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN . 2. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tiếp nhận đơn yêu cầu công nhận sáng kiến, cơ sở có trách nhiệm xem xét đơn theo quy định tại khoản 3
Điều 5. và thực hiện các thủ tục sau đây: a) Thông báo cho tác giả sáng kiến về thiếu sót của đơn và ấn định thời hạn 01 tháng để tác giả sửa chữa bổ sung, gửi lại; b) Thông báo cho tác giả sáng kiến về việc chấp nhận đơn, ghi nhận các thông tin liên quan của đơn và lưu giữ hồ sơ đơn phù hợp với quy định; 3. Trường hợp từ chối đơn yêu cầu công nhận sáng kiến phải được thông báo bằng văn bản cho tác giả được biết rõ lý do nếu từ chối chấp nhận đơn.
Điều 12. Đánh giá đối tượng nêu trong đơn yêu cầu công nhận sáng kiến 1. Cơ sở tiếp nhận đơn yêu cầu công nhận sáng kiến phải có trách nhiệm đánh giá đối tượng nêu trong đơn theo quy định tại
Điều 3. và
Điều 4. Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ;
Điều 4. Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN và Điều 2,
Điều 4. Quy định này. 2. Để đánh giá tính mới của giải pháp nêu trong đơn, trước hết phải tiến hành tra cứu ở các nguồn thông tin sau đây: a) Tất cả các hồ sơ yêu cầu công nhận sáng kiến đã được cơ sở tiếp nhận và có ngày nộp đơn trước đó; b) Các văn bản, sách, tác phẩm báo chí, tài liệu kỹ thuật, tài liệu phục vụ cho hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, các báo cáo khoa học, báo cáo kết quả của các chương trình, đề tài nghiên cứu và các tài liệu khác thuộc cùng lĩnh vực áp dụng sáng kiến đã được công bố trước thời điểm tác giả nộp đơn yêu cầu công nhận sáng kiến dưới bất kỳ hình thức nào có thể tiếp cận công khai trong phạm vi cơ sở. 3. Mục đích của việc tra cứu thông tin theo quy định tại Khoản 2 Điều này là tìm giải pháp có bản chất tương tự hoặc trùng lặp với giải pháp nêu trong đơn, trong đó: a) Hai giải pháp được coi là trùng nhau khi có tất cả các dấu hiệu hoặc đặc điểm cơ bản trùng nhau hoặc tương đương, có thể thay thế được cho nhau; b) Hai giải pháp được coi là tương tự nhau khi có phần lớn các dấu hiệu hoặc đặc điểm cơ bản trùng nhau hoặc tương đương, có thể thay thế được cho nhau. 4. Khi tiến hành tra cứu theo quy định tại Khoản 2 Điều này phải tiến hành so sánh các dấu hiệu hoặc đặc điểm cơ bản của giải pháp nêu trong đơn với các dấu hiệu của giải pháp đối chứng được tìm thấy trong quá trình tra cứu thông tin, trong đó: a) Dấu hiệu cơ bản của giải pháp có thể là đặc điểm về chức năng, công dụng, cấu tạo, liên kết, thành phần cùng với các dấu hiệu cơ bản khác tạo thành một tập hợp cần và đủ để xác định bản chất, nội dung của đối tượng; b) Các dấu hiệu cơ bản của giải pháp nêu trong các tài liệu khác được thể hiện và phát hiện theo tài liệu mô tả hoặc dạng thể hiện thực tế của giải pháp đó. 5. Kết luận về tính mới của giải pháp nêu trong đơn a) Giải pháp nêu trong đơn được coi là có tính mới nếu không tìm thấy giải pháp đối chứng trong quá trình tra cứu thông tin hoặc có tìm thấy giải pháp đối chứng nhưng giải pháp nêu trong đơn có ít nhất một dấu hiệu cơ bản không có mặt trong giải pháp đối chứng và dấu hiệu đó được gọi là dấu hiệu cơ bản khác biệt; b) Giải pháp nêu trong đơn được coi là không có tính mới nếu tìm thấy giải pháp có bản chất tương tự hoặc trùng lặp với giải pháp đó theo quy định tại Khoản 3 Điều này và phải thống kê được các giải pháp đối chứng tìm thấy, chỉ rõ các dấu hiệu trùng nhau, tên tài liệu đối chứng, số trang, số dòng, nguồn gốc tài liệu và ngày công bố của tài liệu tương ứng. 6. Trường hợp cần thiết phải tra cứu thông tin về tình trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật để đánh giá sáng kiến theo điều kiện quy định tại điểm b khoản 2
Điều 3. Nghị định số 13/2012/NĐ-CP , cơ sở có thể tra cứu từ cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp tại Cục Sở hữu trí tuệ và các nguồn thông tin khác do Cục Sở hữu trí tuệ quy định, có thể tham khảo trên Trang thông tin điện tử của Cục Sở hữu trí tuệ tại địa chỉ: http://www.noip.gov.vn hoặc thông qua đơn vị có chức năng tư vấn về sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật để hỗ trợ tra cứu về thông tin này.
Điều 13. Đánh giá về hiệu quả áp dụng sáng kiến Đánh giá hiệu quả áp dụng sáng kiến theo quy định tại điểm b khoản 1
Điều 3. Nghị định số 13/2012/NĐ-CP : 1. Trường hợp giải pháp nêu trong đơn chỉ là ý tưởng mang tính đề xuất, chưa được áp dụng hoặc áp dụng thử tại cơ sở thì chưa thể xem xét công nhận là sáng kiến. 2. Trường hợp giải pháp nêu trong đơn đã được áp dụng hoặc áp dụng thử tại cơ sở thì đánh giá khả năng mang lại lợi ích thiết thực theo quy định tại khoản 2
Điều 4. Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ; khoản 2
Điều 4. của Quy định này, bằng cách so sánh hiệu quả khi áp dụng sáng kiến so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó, hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết. 3. Trường hợp sáng kiến là giải pháp nhằm cải tiến giải pháp đã biết trước đó thì cần phải đánh giá rõ hiệu quả áp dụng sáng kiến khắc phục được đến mức độ nào những nhược điểm của giải pháp đã biết. 4. Trường hợp áp dụng sáng kiến mang lại hiệu quả về mặt kinh tế thì việc xác định tiền làm lợi từ áp dụng sáng kiến thực hiện theo quy định tại
Điều 11. Nghị định số 13/2012/NĐ-CP . Mục 2. TỔ CHỨC XÉT CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Điều 14. Thời hạn xét công nhận sáng kiến 1. Việc xét công nhận sáng kiến chỉ được thực hiện sau khi tác giả đã nộp đơn yêu cầu công nhận sáng kiến và giải pháp nêu trong đơn đã được hoặc đang được áp dụng; trường hợp có tranh chấp về quyền tác giả hoặc có tố cáo, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến giải pháp nêu trong đơn thì phải giải quyết xong mới tổ chức xét công nhận sáng kiến và phải thông báo cho tác giả được biết về việc này. 2. Thời hạn xét công nhận sáng kiến thực hiện theo quy định tại khoản 1
Điều 7. Nghị định số 13/2012/NĐ-CP và thực hiện theo quy định này cụ thể như sau: a) Trường hợp khi nộp đơn mà trước đó tác giả đã hoàn thành việc áp dụng sáng kiến lần đầu thì việc xét công nhận sáng kiến được thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày kế tiếp của ngày chấp nhận đơn đến ngày tương ứng của 3 tháng sau; b) Trường hợp tại thời điểm đơn yêu cầu công nhận sáng kiến đã nộp nhưng giải pháp nêu trong đơn chưa được áp dụng hoặc áp dụng thử thì việc xét công nhận sáng kiến chỉ được thực hiện khi giải pháp đó đã được đưa vào áp dụng hoặc áp dụng thử và thời hạn xét công nhận sáng kiến được thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày kế tiếp của ngày hoàn thành việc áp dụng sáng kiến lần đầu đến ngày tương ứng của 3 tháng sau; c) Nếu tháng kết thúc thời hạn quy định tại Điểm a và b khoản này không có ngày tương ứng thì thời hạn kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng đó; d) Khi ngày cuối cùng của thời hạn quy định tại điểm a và b khoản này là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.
Điều 15. Thành lập Hội đồng sáng kiến 1. Hội đồng sáng kiến được thành lập theo quy định tại
Điều 8. Nghị định số 13/2012/NĐ-CP và khoản 1
Điều 8. Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN và thực hiện theo quy định này cụ thể như sau: a) Tác giả (đồng tác giả) của giải pháp yêu cầu công nhận sáng kiến không được là thành viên của Hội đồng sáng kiến; trong trường hợp buộc phải tham gia Hội đồng thì không tham gia đánh giá sáng kiến do mình làm tác giả hoặc đồng tác giả. b) Tùy từng lĩnh vực áp dụng của sáng kiến được xét duyệt, cơ sở có thẩm quyền xét công nhận sáng kiến có thể mời chuyên gia, nhà khoa học có trình độ chuyên môn phù hợp và am hiểu sâu về lĩnh vực sáng kiến, đề nghị là thành viên chính thức của Hội đồng. 2. Chuyên gia được mời tham gia Hội đồng sáng kiến phải đáp ứng các điều kiện sau: a) Không phải là người có mối quan hệ như: Bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột, bên vợ, bên chồng của tác giả (đồng tác giả); b) Không phải là người đã từng có khiếu nại, tố cáo đối với tác giả (đồng tác giả); c) Là người có chuyên môn cao phù hợp với lĩnh vực áp dụng sáng kiến, trong đó ưu tiên người có trình độ từ bậc đại học trở lên và không thấp hơn so với trình độ chuyên môn của tác giả (đồng tác giả); d) Việc áp dụng giải pháp nêu trong đơn không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chuyên gia đó; đ) Là người có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín và kinh nghiệm trong lĩnh vực áp dụng sáng kiến. 3. Thành phần của Hội đồng sáng kiến a) Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu cơ sở xét công nhận sáng kiến; trường hợp người đứng đầu cơ sở xét công nhận sáng kiến chính là tác giả (đồng tác giả) sáng kiến, thì Chủ tịch Hội đồng là cấp phó của người đứng đầu cơ sở được giao phụ trách hoạt động sáng kiến ở cơ sở hoặc có trình độ chuyên môn liên quan đến
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.
Vietnamese-language original. Use browser translation if needed.