Bỏ qua điều hướng - vào nội dung chính
VietLex

🇰🇷 원본 문서는 베트남어입니다

베트남 법률은 베트남어로만 공식 발행됩니다. 아래 내용은 원문입니다. Chrome / Edge / Safari 내장 번역을 사용하시거나:

Thông tư88/2025/TT-BCA· 17/09/2025

Thông tư số 88/2025/TT-BCA Hướng dẫn thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Điều 3 Thông tư này được tính hưởng chế độ ốm đau theo quy định. Ví dụ 1: ngày 13 tháng 10 năm 2025 đồng chí Đại úy Hoàng Quốc M bị tai nạn trong sinh hoạt phải nghỉ việc để điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đến hết ngày 18 tháng 10 năm 2025 và được bác sĩ điều trị chỉ định nghỉ ốm thêm 05 ngày, đến hết ngày 23 tháng 10 năm 2025. Ngày nghỉ hằng tuần của đồng chí M được xác định là Thứ bảy và Chủ nhật. Như vậy, số ngày đồng chí M được hưởng chế độ ốm đau là 09 ngày (không tính các ngày 18 và 19 tháng 10 là Thứ bảy, Chủ nhật). 2. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm a khoản 1

Điều 44. Luật Bảo hiểm xã hội và khoản 2

Điều 10. Nghị định số 157/2025/NĐ-CP , trong đó: a) Thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau tối đa trong năm quy định tại khoản 1

Điều 44. Luật Bảo hiểm xã hội không phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động; b) Trường hợp trong cùng một thời gian người lao động có từ 2 con trở lên dưới 7 tuổi bị ốm đau thì thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau được tính bằng thời gian thực tế người lao động nghỉ việc chăm sóc con ốm đau; thời gian tối đa người lao động nghỉ việc trong một năm cho mỗi con được thực hiện theo quy định tại khoản 1

Điều 44. Luật Bảo hiểm xã hội; c) Việc xác định thời gian hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau trong một năm được tính đến trước ngày sinh của năm con đủ 03 tuổi, đủ 07 tuổi và căn cứ vào thời điểm bắt đầu nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau. Ví dụ 2: đồng chí Trung úy Hoàng Văn B có con dưới 03 tuổi bị ốm đau nên phải nghỉ việc để chăm sóc con từ ngày 04 tháng 11 đến ngày 10 tháng 11 năm 2025. Ngày nghỉ hằng tuần của đồng chí B là ngày Thứ bảy và Chủ nhật. Như vậy, số ngày đồng chí B thực tế nghỉ việc để chăm sóc con là 07 ngày; trong đó, số ngày được hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau là 05 ngày (trừ 02 ngày nghỉ hằng tuần là Thứ bảy và Chủ nhật). Ví dụ 3: đồng chí Thượng úy Nguyễn Hoàng Y có 02 con dưới 07 tuổi bị ốm đau với thời gian như sau: con thứ nhất bị ốm từ ngày 04 tháng 02 đến ngày 10 tháng 02 năm 2026, con thứ hai bị ốm từ ngày 07 tháng 02 đến ngày 13 tháng 02 năm 2026, đồng chí Y phải nghỉ việc để chăm sóc cả 02 con ốm đau. Ngày nghỉ hàng tuần của đồng chí Y là ngày Thứ bảy và Chủ nhật. Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau của đồng chí Y được tính từ ngày 04 tháng 02 đến ngày 13 tháng 02 năm 2026 là 08 ngày (trừ 02 ngày nghỉ hàng tuần là ngày Thứ bảy và Chủ nhật). d) Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà luân phiên nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau thì thời gian tối đa hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau trong một năm của người cha hoặc người mẹ cho mỗi con thực hiện theo quy định tại khoản 1

Điều 44. của Luật Bảo hiểm xã hội. Ví dụ 4: vợ chồng đồng chí Thượng úy Nguyễn Thị V và đồng chí Thiếu tá Đặng Văn C có con 06 tuổi bị ốm phải điều trị ở bệnh viện từ ngày 11 tháng 9 đến ngày 06 tháng 10 năm 2025. Ngày nghỉ hằng tuần của đồng chí V và đồng chí C đều là Thứ bảy và Chủ nhật. Vì điều kiện công việc, vợ chồng đồng chí V phải bố trí thay nhau nghỉ chăm sóc con như sau: - Đồng chí V nghỉ chăm sóc con từ ngày 11 tháng 9 đến ngày 17 tháng 9 và từ ngày 25 tháng 9 đến ngày 06 tháng 10 năm 2025; - Đồng chí C nghỉ chăm sóc con từ ngày 18 tháng 9 đến ngày 24 tháng 9 năm 2025. Như vậy, thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau của đồng chí V và đồng chí C được tính như sau: Đối với đồng chí V: tổng số ngày nghỉ chăm sóc con là 19 ngày, trừ 04 ngày nghỉ hằng tuần là ngày Thứ bảy và Chủ nhật, còn lại 15 ngày. Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, thời gian nghỉ việc hưởng chế độ khi con từ 03 tuổi đến dưới 07 tuổi ốm đau trong một năm tối đa là 15 ngày. Do vậy, trong trường hợp này, con của đồng chí V là 06 tuổi nên đồng chí V được hưởng chế độ chăm sóc khi con ốm đau là 15 ngày. Đối với đồng chí C: tổng số ngày nghỉ chăm sóc con là 07 ngày, trong đó thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau của đồng chí C là 05 ngày (trừ 02 ngày nghỉ hàng tuần là ngày Thứ bảy và Chủ nhật). đ) Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, cùng nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau thì cả cha và mẹ đều được giải quyết hưởng chế độ khi con ốm đau; thời gian tối đa hưởng chế độ khi con ốm đau trong một năm của người cha hoặc người mẹ cho mỗi con theo quy định tại khoản 1

Điều 44. Luật Bảo hiểm xã hội.

Điều 5. Mức hưởng trợ cấp ốm đau 1. Mức hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm a khoản 1

Điều 2. Thông tư này được thực hiện theo quy định tại khoản 4

Điều 45. Luật Bảo hiểm xã hội và

Điều 11. Nghị định số 157/2025/NĐ-CP , cụ thể theo công thức sau: Mức hưởng trợ cấp ốm đau = Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc x Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau 24 ngày Trường hợp nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau liên tục từ một tháng trở lên (bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hằng tuần) thì mức hưởng trợ cấp ốm đau của thời gian bằng một tháng (tính từ ngày bắt đầu nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau của tháng đó đến ngày trước ngày đó của tháng sau liền kề) được tính bằng mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau. Trường hợp người lao động nghỉ việc do bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ngay trong tháng đầu tham gia bảo hiểm xã hội hoặc ngay trong tháng tham gia bảo hiểm xã hội trở lại thì mức hưởng chế độ ốm đau được tính theo mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của chính tháng đó. Ví dụ 5 : đồng chí Trung úy Trần Thanh M bị ốm, điều trị bệnh từ ngày 07 tháng 3 đến ngày 17 tháng 4 năm 2026, giả sử đồng chí M tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 3 năm 2026, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của tháng 3 năm 2026 là 11.500.000 đồng. Mức hưởng trợ cấp ốm đau của đồng chí M được tính như sau: Thời gian ốm đau được tính cả tháng: từ ngày 07 tháng 3 đến ngày 06 tháng 4 năm 2026 là 01 tháng; mức hưởng trợ cấp ốm đau bằng mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tháng 3 năm 2026 là 11.500.000 đồng. Thời gian có ngày lẻ: từ ngày 07 tháng 4 đến ngày 17 tháng 4 năm 2026 là 11 ngày, trong đó có 02 ngày nghỉ hằng tuần là ngày Thứ bảy và Chủ nhật; do đó, số ngày lẻ được tính hưởng trợ cấp ốm đau từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội là 09 ngày, mức hưởng trợ cấp ốm đau của những ngày lẻ được tính như sau: Mức hưởng trợ cấp ốm đau = 11. 500.000 đồng x 100% x 09 (ngày) = 4. 312.503 đồng 24 ngày Tổng số tiền trợ cấp ốm đau của đồng chí M là: 11. 500.000 đồng + 4.312.503 đồng = 15.812.503 đồng 2. Mức hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau đối với người lao động quy định tại điểm a khoản 1

Điều 2. Thông tư này thực hiện theo quy định tại khoản 2

Điều 45. Luật Bảo hiểm xã hội, cụ thể theo công thức sau: Mức hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau = Tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc x 75% x Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ khi chăm sóc con ốm đau 24 ngày 3. Ngày làm việc để làm cơ sở xác định thời gian hưởng chế độ ốm đau hoặc chế độ khi chăm sóc con ốm đau của người lao động là thời giờ làm việc bình thường trong ngày mà người lao động phải làm việc cho người sử dụng lao động theo nội quy lao động hoặc theo quy định của pháp luật. Đối với người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau hoặc chăm sóc con ốm đau không trọn ngày thì trường hợp nghỉ việc dưới nửa ngày được tính là nửa ngày; từ nửa ngày đến dưới một ngày được tính là một ngày. 4. Trong thời gian hưởng trợ cấp ốm đau nếu Chính phủ điều chỉnh mức tham chiếu hoặc người lao động được phong, thăng cấp bậc hàm, nâng lương, tăng phụ cấp thâm niên nghề hoặc phụ cấp thâm niên vượt khung thì mức hưởng chế độ ốm đau của người lao động vẫn tính theo mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị bệnh hoặc chăm sóc con ốm đau.

Điều 6. Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau 1. Người lao động đã hưởng chế độ ốm đau từ đủ 30 ngày trở lên trong năm, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Thời gian và mức hưởng được thực hiện theo quy định tại

Điều 46. Luật Bảo hiểm xã hội và khoản 2

Điều 7. Thông tư số 12/2025/TT-BNV ngày 30 tháng 6 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc (sau đây viết gọn là Thông tư số 12/2025/TT-BNV ). Ví dụ 6: tính đến tháng 6 năm 2026, đồng chí Đại úy Nguyễn Văn H đã nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau được 40 ngày, sau khi đi làm trở lại một tuần thấy sức khỏe còn yếu, đồng chí H báo cáo và được thủ trưởng đơn vị quyết định cho nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe 05 ngày. Đến tháng 8 năm 2026, đồng chí H bị ốm đau phải phẫu thuật, nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau 10 ngày thì trở lại làm việc nhưng sức khỏe chưa phục hồi. Trường hợp của đồng chí H tính đến tháng 8 năm 2026 đã nghỉ việc hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau được 05 ngày. Do vậy, khi trở lại làm việc sau thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau phải phẫu thuật mà sức khỏe chưa phục hồi thì đồng chí H được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau tối đa là 02 ngày (dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau phẫu thuật tối đa là 07 ngày nhưng trước đó đồng chí H đã nghỉ hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau là 05 ngày). 2. Việc quyết định số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau theo quy định tại khoản 2

Điều 46. Luật Bảo hiểm xã hội do thủ trưởng đơn vị cấp cục; Giám đốc Công an cấp tỉnh (hoặc thủ trưởng đơn vị dự toán cấp 3 thuộc Công an cấp tỉnh); thủ trưởng đơn vị dự toán cấp 3 thuộc Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động; người đứng đầu doanh nghiệp quyết định trên cơ sở đề nghị của cơ quan tổ chức cán bộ và cơ quan y tế (nếu có). 3. Người lao động đủ điều kiện nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe trong năm nào thì thời gian nghỉ việc hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được tính của năm đó. Ví dụ 7: đồng chí Trung úy Nguyễn Hoàng N nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau do phải phẫu thuật từ ngày 15 tháng 10 năm 2027 đến ngày 15 tháng 12 năm 2027 (trong năm 2027, đồng chí N chưa nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau). Từ ngày 16 tháng 12 năm 2027, đồng chí N trở lại tiếp tục làm việc đến ngày 28 tháng 12 năm 2027, do sức khỏe chưa phục hồi nên đồng chí N được đơn vị giải quyết nghỉ việc hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau là 07 ngày từ ngày 29 tháng 12 năm 2027 đến ngày 04 tháng 01 năm 2028. Trường hợp nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe 07 ngày của đồng chí N được tính cho năm 2027. 4. Trường hợp người lao động đủ điều kiện hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau nhưng không nghỉ việc hoặc đang trong thời gian nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương, nghỉ hưởng nguyên lương theo quy định thì không được hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau ốm đau. Mục 2 CHẾ ĐỘ THAI SẢN

Điều 7. Đối tượng, điều kiện hưởng chế độ thai sản Điều kiện hưởng chế độ thai sản của lao động nữ sinh con, lao động nữ mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1

Điều 2. Thông tư này được thực hiện theo quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 5

Điều 50. Luật Bảo hiểm xã hội, trong đó: 1. Lao động nữ sinh con thuộc trường hợp trước đó phải nghỉ việc để điều trị vô sinh thì điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con là đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng liền kề trước khi sinh con. Ví dụ 8: đồng chí Đại úy Nguyễn Hồng H có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc liên tục từ tháng 9 năm 2010 đến tháng 8 năm 2025. Do hiếm muộn, đồng chí H xin nghỉ việc để điều trị vô sinh từ tháng 9 năm 2025, đến tháng 01 năm 2027 đồng chí H sinh con; trong khoảng thời gian 24 tháng trước khi sinh (tính từ tháng 01 năm 2025 đến tháng 12 năm 2026) đồng chí H có 08 tháng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (tính từ tháng 01 năm 2025 đến tháng 8 năm 2025). Như vậy, đồng chí H đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi sinh con. 2. Thời gian 12 tháng hoặc 24 tháng liền kề trước khi sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi xác định như sau: a) Trường hợp lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng hoặc 24 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi. Ví dụ 9: đồng chí Thượng úy Nguyễn Thu T sinh con ngày 12 tháng 11 năm 2025, thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 11 năm 2024 đến tháng 10 năm 2025. b) Trường hợp lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng và tháng đó có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tháng sinh con hoặc tháng nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng hoặc 24 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi. Trường hợp tháng đó không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này. Ví dụ 10: đồng chí Thượng úy Nguyễn Thu T nêu tại ví dụ 9 nếu sinh con ngày 18 tháng 11 năm 2025, thời gian 12 tháng trước khi sinh con của đồng chí T được tính như sau: - Nếu tháng 11 năm 2025 có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì 12 tháng trước khi sinh tính từ tháng 12 năm 2024 đến tháng 11 năm 2025. - Nếu tháng 11 năm 2025 không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì 12 tháng trước khi sinh tính từ tháng 11 năm 2024 đến tháng 10 năm 2025. Ví dụ 11: đồng chí Trung úy Đào Mai H sinh con vào ngày 13 tháng 01 năm 2027, khoảng thời gian 12 tháng trước khi sinh con được tính từ tháng 01 năm 2026 đến tháng 12 năm 2026, nếu trong khoảng thời gian này đồng chí H đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên hoặc từ đủ 03 tháng trở lên trong trường hợp khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì đồng chí H được hưởng chế độ thai sản theo quy định. 3. Trong thời gian trở lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con mà lao động nữ phải nghỉ việc để đi khám thai, sảy thai, phá thai, thai chết trong tử cung, thai chết trong khi chuyển dạ, thai ngoài tử cung, thực hiện các biện pháp tránh thai thì được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Điều 51,

Điều 52. và

Điều 57. Luật Bảo hiểm xã hội.

Điều 8. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản 1. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sinh con được thực hiện theo quy định tại

Điều 53. Luật Bảo hiểm xã hội. Trường hợp mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 5, khoản 6 và khoản 7

Điều 53. Luật Bảo hiểm xã hội, trong đó: a) Trường hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ. Mức hưởng trợ cấp thai sản được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người mẹ; b) Trường hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội

Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.

베트남어 원문입니다. 필요시 브라우저 번역을 사용하세요.