🇰🇷 원본 문서는 베트남어입니다
베트남 법률은 베트남어로만 공식 발행됩니다. 아래 내용은 원문입니다. Chrome / Edge / Safari 내장 번역을 사용하시거나:
문서 — 베트남 (2025)
🇻🇳 Original: Thông tư liên tịch Quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong Quân đội
Số: 07/2025/TTLT-VKSNDTC-
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcHà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2025
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
Quy định về phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong Quân đội và ngoài Quân đội trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Thông tư liên tịch này quy định về phối hợp giữa các cơ quan, người có thẩm quyền trong Quân đội và ngoài Quân đội trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Các cơ quan có thẩm quyền trong Quân đội và ngoài Quân đội, gồm:
a) Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan điều tra); b) Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Viện kiểm sát quân sự các cấp (sau đây gọi chung là Viện kiểm sát); c) Tòa án nhân dân các cấp, Tòa án quân sự các cấp (sau đây gọi chung là Tòa án); d) Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; đ) Công an xã, phường, đặc khu, Đồn Công an.
2. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan quy định tại
khoản 1 Điều này.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Điều 3. Nguyên tắc phối hợp
1. Tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định khác của
pháp luật có liên quan.
2. Bảo đảm tính khách quan, toàn diện, đúng thời hạn, đáp ứng yêu cầu thực
tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
3. Tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan, bảo đảm
bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật và quy định của mỗi cơ quan. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chương II QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 4. Tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm
1. Cơ quan có thẩm quyền trong Quân đội hoặc ngoài Quân đội có trách nhiệm
tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm theo thẩm quyền hoặc chuyển nguồn tin về tội phạm cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp có căn cứ xác định nguồn tin về tội phạm không thuộc thẩm
quyền giải quyết của mình thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi có căn cứ xác định, cơ quan đã tiếp nhận nguồn tin về tội phạm phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền; trường hợp không thể chuyển ngay vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 6, khoản 1 Điều 7 và khoản 3 Điều 8 của Thông tư liên tịch này thì phải thông báo ngay qua điện thoại hoặc hình thức liên lạc khác nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
3. Trường hợp phát hiện, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm trên tàu bay, tàu biển
thì trong thời hạn 03 ngày kể từ khi tàu bay đến sân bay, tàu biển cập cảng đầu tiên, cơ quan, người đã phát hiện, tiếp nhận nguồn tin phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
4. Các cơ quan có trách nhiệm phối hợp thống nhất về thời gian, địa điểm
chuyển giao người vi phạm, hồ sơ, tài liệu, đồ vật, tài sản, phương tiện liên quan đến nguồn tin về tội phạm; trường hợp không thống nhất được địa điểm thì việc chuyển giao được tiến hành tại cơ quan tiếp nhận, giải quyết ban đầu. Cơ quan tiếp nhận, giải quyết ban đầu có trách nhiệm thu thập đầy đủ tài liệu, thống kê hồ sơ, đồ vật, tài sản, phương tiện có liên quan bàn giao cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Sau khi bàn giao, cơ quan tiếp nhận, giải quyết ban đầu tiếp tục có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan điều tra có thẩm quyền khi có yêu cầu, đề nghị. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết ban đầu có trách nhiệm chuyển hồ sơ kiểm sát cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển giao hồ sơ, tài liệu phải được lập biên bản, thống kê tài liệu và đóng dấu bút lục theo quy định.
5. Chi phí tố tụng trong giai đoạn thụ lý, giải quyết ban đầu nguồn tin về tội
phạm do cơ quan tiếp nhận, giải quyết ban đầu có trách nhiệm thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 5. Thông báo việc chuyển giao và kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm
1. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày chuyển nguồn tin về tội phạm đến Cơ
quan điều tra có thẩm quyền giải quyết, cơ quan tiếp nhận, giải quyết ban đầu nguồn tin về tội phạm có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra một trong các quyết định quy định tại
khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho cơ quan đã tiếp nhận, giải quyết ban đầu nguồn tin về tội phạm và cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát có trách nhiệm thông báo.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra một trong các quyết định quy định tại
khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết ban đầu nguồn tin về tội phạm.
Điều 6. Phối hợp giải quyết nguồn tin về tội phạm đã có căn cứ xác định
thẩm quyền Trường hợp có căn cứ xác định nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra trong Quân đội hoặc của Cơ quan điều tra ngoài Quân đội thì xử lý như sau:
1. Cơ quan điều tra nào phát hiện, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm trước thì
phải thông báo ngay qua điện thoại hoặc bằng hình thức liên lạc khác nhanh nhất cho Cơ quan điều tra trong Quân đội hoặc ngoài Quân đội có thẩm quyền để giải quyết. Cơ quan điều tra thụ lý, giải quyết có trách nhiệm thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
2. Trường hợp Cơ quan điều tra có thẩm quyền chưa kịp tiếp nhận, nhưng cần
phải tiến hành ngay các hoạt động kiểm tra, xác minh theo quy định của pháp luật để thu thập tài liệu, dấu vết, vật chứng, truy xét đối tượng, xác minh tung tích nạn nhân thì Cơ quan điều tra phát hiện, tiếp nhận phải chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát có thẩm quyền tiến hành ngay các hoạt động kiểm tra, xác minh ban đầu. Cơ quan điều tra phát hiện, tiếp nhận giải quyết phải nhanh chóng tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh, hoàn thiện hồ sơ ban đầu và bàn giao ngay người vi phạm, hồ sơ, tài liệu, đồ vật, tài sản, phương tiện có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 7. Phối hợp giải quyết nguồn tin về tội phạm chưa xác định rõ thẩm quyền
1. Trường hợp Cơ quan điều tra trong Quân đội hoặc Cơ quan điều tra ngoài
Quân đội phát hiện, tiếp nhận nguồn tin về tội phạm là các vụ việc xảy ra tại các khu vực giáp ranh mốc giới, địa giới với khu quân sự do Quân đội quản lý, bảo vệ hoặc xảy ra ngoài khu quân sự nhưng có thông tin liên quan đến quân đội; vụ việc chưa rõ người phạm tội, người bị hại có phải là người do Quân đội quản lý hoặc hành vi của người phạm tội có liên quan bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội hay không, thì Cơ quan điều tra đã phát hiện, tiếp nhận phải chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát có thẩm quyền phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm, tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh ban đầu, trường hợp cần phối hợp với Cơ quan điều tra khác trên địa bàn thì thông báo ngay cho Cơ quan đó để phối hợp giải quyết, xác định thẩm quyền. Khi có căn cứ xác định vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải nhanh chóng tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh, hoàn thiện hồ sơ ban đầu, bàn giao ngay người vi phạm, hồ sơ, tài liệu, đồ vật, tài sản, phương tiện có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để giải quyết.
2. Trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền giữa Cơ quan điều tra trong Quân
đội và Cơ quan điều tra ngoài Quân đội thì Cơ quan điều tra tiếp nhận, giải quyết ban đầu trao đổi ngay với Viện kiểm sát có thẩm quyền và Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có liên quan để thống nhất biện pháp giải quyết; nếu không thống nhất được, thì Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm có văn bản báo cáo, đề nghị Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định.
Điều 8. Giải quyết vụ việc vi phạm quy định về an toàn giao thông đường
bộ, đường sắt, đường thủy nội địa có liên quan đến người, phương tiện, tài sản của Quân đội
1. Các vụ việc vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, đường sắt,
đường thủy nội địa do lực lượng Cảnh sát giao thông tiếp nhận, giải quyết có thông tin liên quan đến người, phương tiện, tài sản của Quân đội thì lực lượng Cảnh sát giao thông tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh, giải quyết theo quy định; đồng thời thông báo ngay qua điện thoại hoặc bằng hình thức liên lạc khác nhanh nhất cho Cơ quan điều tra trong Quân đội có thẩm quyền và Cơ quan điều tra trong Quân đội trên địa bàn có trụ sở gần nhất để kịp thời phối hợp giải quyết.
2. Trường hợp xác định được ngay vụ việc không có dấu hiệu tội phạm thì lực
lượng Cảnh sát giao thông xử lý, giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày lực lượng Cảnh sát giao thông kết thúc việc xử lý, giải quyết phải thông báo bằng văn bản về kết quả xử lý, giải quyết cho cơ quan, đơn vị quản lý người, phương tiện, tài sản của Quân đội để biết.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày có căn cứ xác định vụ việc có dấu hiệu
tội phạm thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra trong Quân đội thì lực lượng Cảnh sát giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiếp nhận, giải quyết ban đầu bàn giao toàn bộ hồ sơ, tài liệu, đồ vật, tài sản, phương tiện có liên quan đến vụ việc cho Cơ quan điều tra trong Quân đội để giải quyết. Sau khi bàn giao, lực lượng Cảnh sát giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra có trách nhiệm tiếp tục phối hợp với Cơ quan điều tra trong Quân đội khi có đề nghị hoặc yêu cầu phối hợp. Sau khi tiếp nhận vụ việc thuộc thẩm quyền, Cơ quan điều tra trong Quân đội tiến hành giải quyết và trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày kết thúc việc giải quyết phải thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho lực lượng Cảnh sát giao thông, Cơ quan Cảnh sát điều tra để tổng hợp, thống kê theo quy định.
Điều 9. Phối hợp trực tiếp kiểm sát việc phát hiện, tiếp nhận, chuyển giao
nguồn tin về tội phạm của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển
1. Viện kiểm sát quân sự khu vực trực thuộc các Viện kiểm sát quân sự quân
khu chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân khu vực trực tiếp kiểm sát việc phát hiện, tiếp nhận, chuyển giao nguồn tin về tội phạm của Biên phòng Cửa khẩu cảng, Đồn biên phòng thuộc Bộ đội biên phòng; Hải đoàn, Hải đội và Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển đóng quân trên địa bàn.
2. Viện kiểm sát quân sự quân khu chủ trì, phối hợp với Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh trực tiếp kiểm sát việc phát hiện, tiếp nhận, chuyển giao nguồn tin về tội phạm của Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng; Bộ Tư lệnh vùng Cảnh sát biển; Đoàn Trinh sát và Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy của lực lượng Cảnh sát biển đóng quân trên địa bàn.
3. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương quyết định phân công thực
hiện trực tiếp kiểm sát việc phát hiện, tiếp nhận, chuyển giao nguồn tin về tội phạm của Cục Trinh sát; Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm; Đoàn Trinh sát và Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm của Bộ đội biên phòng; Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển; Cục Nghiệp vụ và Pháp luật Cảnh sát biển.
4. Chậm nhất 15 ngày trước ngày tiến hành trực tiếp kiểm sát, Viện kiểm sát
quân sự phải gửi quyết định, kế hoạch trực tiếp kiểm sát, văn bản đề nghị cung cấp thông tin, số liệu kèm theo đề cương báo cáo đến cơ quan được kiểm sát. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, kế hoạch, văn bản đề nghị, cơ quan được kiểm sát phải gửi báo cáo bằng văn bản đến Viện kiểm sát quân sự.
5. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày kết thúc việc trực tiếp kiểm sát, Viện
kiểm sát quân sự phải gửi kết luận trực tiếp kiểm sát đến cơ quan được kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân đã phối hợp và Viện kiểm sát quân sự cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày cơ quan được kiểm sát nhận được kết luận trực tiếp kiểm sát, nếu không đồng ý với nội dung kết luận hoặc có ý kiến khác, cơ quan được kiểm sát có quyền kiến nghị bằng văn bản. Trường hợp Viện kiểm sát giữ nguyên kết luận, cơ quan được kiểm sát có quyền kiến nghị bằng văn bản với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để xem xét, giải quyết. Quyết định của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
6. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực có trách
nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát quân sự trong việc cung cấp thông tin, số liệu về kiểm sát việc phát hiện, tiếp nhận, chuyển giao nguồn tin về tội phạm của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển do mình thực hiện theo đề nghị của Viện kiểm sát quân sự trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị.
7. Trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc phát hiện,
tiếp nhận, chuyển giao nguồn tin về tội phạm của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển thì Viện kiểm sát quân sự, Viện kiểm sát nhân dân phối hợp trực tiếp kiểm sát đột xuất theo quy định của pháp luật.
Điều 10. Phối hợp trong trường hợp giải quyết vụ việc, vụ án phát hiện có
dấu hiệu tội phạm xảy ra trong hoạt động tư pháp
1. Cơ quan có thẩm quyền trong Quân đội hoặc ngoài Quân đội giải quyết vụ
việc, vụ án nếu phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi phát hiện, phải thông báo ngay qua điện thoại hoặc bằng hình thức liên lạc khác nhanh nhất cho Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương để giải quyết theo thẩm quyền; đồng thời phải chuyển hồ sơ, tài liệu (bản chính hoặc bản sao y) kèm đồ vật, tài sản có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để kịp thời xác minh, giải quyết theo quy định của pháp luật trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày phát hiện. Cơ quan đã phát hiện, cung cấp thông tin vi phạm, tội phạm có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương giải quyết vụ việc, vụ án khi có yêu cầu.
2. Trường hợp vụ việc, vụ án có dấu hiệu tội phạm xâm phạm hoạt động tư
pháp, tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp vừa thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, vừa thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương thì thẩm quyền giải quyết vụ việc, vụ án do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.
Điều 11. Phối hợp ủy thác điều tra, tách, chuyển vụ án để điều tra theo
thẩm quyền
1. Cơ quan điều tra trong Quân đội và ngoài Quân đội tiến hành điều tra vụ
án khi cần thiết phải ủy thác điều tra thì thực hiện theo quy định tại Điều 171 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan. Trước khi ra quyết định ủy thác điều tra, Cơ quan điều tra ủy thác trao đổi với Cơ quan điều tra được ủy thác để thống nhất về nội dung, thời hạn thực hiện việc ủy thác điều tra.
2. Trường hợp Cơ quan điều tra ngoài Quân đội khi đang tiến hành điều tra vụ
án phát hiện vụ án đó có liên quan đến người do Quân đội quản lý, bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội thì phải kịp thời kiểm tra, xác minh, đồng thời thông báo ngay qua điện thoại hoặc bằng hình thức liên lạc khác nhanh nhất cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong Quân đội để phối hợp kiểm tra, xác minh. Khi có căn cứ xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan điều tra trong Quân đội thì phải chuyển ngay vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong Quân đội nếu không thể tách được vụ án. Trường hợp có thể tách được vụ án thì Cơ quan điều tra ngoài Quân đội thực hiện thủ tục tách vụ án và chuyển cho Cơ quan điều tra trong Quân đội để điều tra theo thẩm quyền.
3. Trường hợp Cơ quan điều tra ngoài Quân đội đã ra quyết định khởi tố bị can
sau đó mới có căn cứ xác định bị can là người do Quân đội quản lý thì xử lý như sau: a) Trường hợp vụ án có một bị can hoặc không thể tách được vụ án thì phải chuyển ngay vụ án, bị can cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong Quân đội; b) Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà có thể tách được vụ án thì Cơ quan điều tra ngoài Quân đội thực hiện thủ tục tách vụ án và chuyển vụ án, bị can cho Cơ quan điều tra trong Quân đội để điều tra theo thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận bị can trong trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này, Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong Quân đội tiếp tục áp dụng các lệnh, quyết định tố tụng đối với bị can do các cơ quan tiến hành tố tụng ngoài Quân đội ban hành; trường hợp thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can thì thực hiện theo quy định tại Điều 156,
Điều 180. của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4. Trường hợp chuyển vụ án giữa Cơ quan điều tra trong Quân đội và ngoài
Quân đội thì trước khi chuyển vụ án Cơ quan điều tra đang điều tra trao đổi với Viện kiểm sát đang thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án để có văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định chuyển vụ án. Khi nhận được văn bản đề nghị ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định chuyển vụ án có văn bản thông báo cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền tiếp nhận giải quyết. Thủ tục chuyển vụ án thực hiện theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan. Sau khi bàn giao vụ án, Cơ quan điều tra đã chuyển vụ án có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã tiếp nhận vụ án khi có yêu cầu hoặc đề nghị phối hợp.
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và
Luật số 99/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 87/2025/QH15;
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường liên tịch ban hành quy định về phối hợp giữa
các cơ quan có thẩm quyền trong Quân đội và ngoài Quân đội trong việc tiếp nhận,
giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 12. Phối hợp trong các trường hợp bắt, khám xét, tạm giữ, tạm giam,
áp giải, dẫn
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.
베트남어 원문입니다. 필요시 브라우저 번역을 사용하세요.