Bỏ qua điều hướng - vào nội dung chính

🇰🇷 원본 문서는 베트남어입니다

베트남 법률은 베트남어로만 공식 발행됩니다. 아래 내용은 원문입니다. Chrome / Edge / Safari 내장 번역을 사용하시거나:

Nghị quyết· 04/04/2022

문서 — 베트남

🇻🇳 Original: Nghị quyết CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY

TỈNH ỦY QUẢNG NGÃI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Quảng Ngãi, ngày 04 tháng 4 năm 2022

NGHỊ QUYẾT

CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY về công tác dân tộc ----- I. TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

Tỉnh Quảng Ngãi có tổng diện tích tự nhiên là 5.152,95 km2, với 13 đơn

vị hành chính cấp huyện (gồm 05 huyện đồng bằng, 05 huyện miền núi, 01

huyện đảo, 01 thị xã, 01 thành phố), 173 xã, phường, thị trấn. Dân số 1.233.396

người; trong đó có 32 dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Hrê, Co, Cadong),

với 187.072 người, chiếm khoảng 15,17% dân số toàn tỉnh, sống tập trung chủ

yếu là khu vực miền núi của tỉnh, có địa hình khá phức tạp, nhiều đồi núi cao

hiểm trở, là địa bàn xung yếu về quốc phòng, an ninh. Mỗi dân tộc thiểu số có

những phong tục, tập quán riêng, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú văn

hóa của tỉnh.

Trong những năm qua, các cấp ủy đảng và hệ thống chính trị trên địa bàn

tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân

tộc đạt được những kết quả quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở

vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,

nhất là hạ tầng thiết yếu được quan tâm đầu tư. Đời sống vật chất, tinh thần của

đồng bào dân tộc thiểu số có bước được cải thiện. Hệ thống chính trị cơ sở ở

vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được tăng cường. Quốc phòng, an

ninh, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn

trọng và giúp nhau cùng phát triển.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và

miền núi của tỉnh vẫn còn những khó khăn, hạn chế: Quy mô kinh tế nhỏ, cơ

cấu kinh tế chuyển dịch chậm và chưa vững chắc; kết cấu hạ tầng tuy đã được

đầu tư cơ bản nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển; huy động và sử

dụng các nguồn lực đầu tư còn hạn chế; tỷ lệ hộ nghèo cao so với bình quân

chung của tỉnh; chất lượng giáo dục, y tế còn thấp; bản sắc văn hóa truyền thống

tốt đẹp của một số dân tộc đang có xu hướng bị mai một; tư tưởng trông chờ, ỷ

lại và một số phong tục, tập quán lạc hậu của một bộ phận dân tộc thiểu số vẫn

còn tồn tại. Hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu; trình độ, năng lực

của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu. Tình hình an ninh chính

trị, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn yếu tố có thể gây mất ổn định, chia rẽ đoàn

kết giữa các dân tộc; một số nơi hoạt động tôn giáo chưa tuân thủ đúng pháp

luật và chưa phù hợp với phong tục, tập quán của người dân.

Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.

베트남어 원문입니다. 필요시 브라우저 번역을 사용하세요.