nên đồng ý với yêu cầu của bà M.
- Đối với yêu cầu Công nhận Hợp đồng lao động thực tế giữa bà Nguyễn Thị
M, sinh ngày 11/10/1975 với Công ty mía đường B (nay là Công ty cổ phần mía
đường B) từ ngày 01/01/1999 đến ngày 28/4/2021 theo Quyết định về việc nghỉ
hưởng chế độ hưu trí số 152/QĐ-CT ngày 23/04/2021 của Công ty cổ phần mía
đường B.
Căn cứ điểm c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 10
Nghị định 145/2020 – CP
quy định thì thời gian người lao động làm việc theo hợp đồng bị tuyên vô hiệu
được tính là thời gian làm việc của người lao động cho người sử dụng lao động lao
động để làm căn cứ thực hiện chế độ theo quy định của pháp luật về lao động. Tuy
nhiên việc bà M sử dụng thông tin và hồ sơ của người khác để làm việc và đống
bảo hiểm xã hội dẫn đến việc sai thông tin người được hưởng chế độ hưu trí. Nếu
đúng thực tế thì bà M không đủ điều kiện để hưởng hưu trí, do dó bà M đã hưởng
sai chế độ trợ cấp lương hưu trí.
Vì vậy đề nghị Tòa án tuyên thu hồi tiền chế độ hưu trí hưởng sai từ tháng
8/2024 đến tháng 4/2025 với số tiền 103.397.700 đồng của bà M để trả lại quỹ bảo
hiểm xã hội theo quy định. Đồng thời đề nghị Tòa án tuyên thời gian đóng bảo
hiểm xã hội từ tháng 01/1999 đến tháng 4/2021 được tính là thời gian đóng bảo
hiểm xã hội của bà Nguyễn Thị M, sinh ngày 11/10/1975.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị S trình bày:
Bà Nguyễn Thị M là họ hàng bên chồng bà Hà Thị S, hiện nay không có
mâu thuẫn gì. Vào năm 1999, bà Nguyễn Thị M muốn ký hợp đồng lao động với
Công ty mía đường B (sau đây gọi là Công ty). Địa chỉ: Thị trấn Ea Knốp, huyện
Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk nhưng do bà M không có bằng tốt nghiệp phổ thông trung
học nên không đủ điều kiện để ký hợp đồng với Công ty. Sau đó, để được ký hợp
đồng lao động với Công ty, bà M đã mượn bằng tốt nghiệp phổ thông trung học
của bà Nguyễn Thị Sương, đồng thời lấy tên của bà Hà Thị S để ký hợp đồng lao
động với Công ty mía đường B vào ngày 01/01/1999.
Mặc dù trong hợp đồng lao động ký ngày 01/01/1999 giữa bà Hà Thị S và
Công ty mía đường B nhưng thực tế bà Hà Thị S không phải là người trực tiếp lao
động, làm việc tại công ty mà là bà Nguyễn Thị M trực tiếp làm việc tại công ty từ
01/01/1999 cho đến ngày nghỉ hưu 01/5/2021. Sau khi nghỉ hưu thì người được
lương hưu từ 01/5/2021 đến ngày 01/7/2024 cùng do bà Nguyễn Thị M trực tiếp
nhận. Bà Hà Thị S chỉ là người cho bà Nguyễn Thị M mượn tên để lý hợp đồng lao
động với Công ty mía đường B vào ngày 01/01/1999, đồng thời bà S không có
tranh chấp gì đối với quyền lợi, nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị M đối với Công ty
mía đường B.
-- 7 of 13 --
8
Nay bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 7 – tỉnh
Đắk Lắk giải quyết: Tuyên vô hiệu hợp đồng lao động ký ngày 01/01/1999 giữa bà
Hà Thị S và Công ty cổ phần mía đường B và Công nhận hợp đồng lao động thực
tế giữa bà Nguyễn Thị M với Công ty cổ phần mía đường B từ ngày 01/01/1999
đến ngày 23/4/2021 thì bà Hà Thị S đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định của pháp luật. Bà Hà Thị S không có ý kiến và yêu cầu gì đối với nội dung
khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Điều 70,
71 BLTTDS.
- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư
cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của
Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) tại
phiên tòa đảm bảo quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
- Về ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều
49, Điều 50 và Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019. Đề nghị HĐXX chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
- - Tuyên bố Hợp đồng lao động không xác định thời hạn số DNN-017947
được ký kết ngày 01/01/1999, giữa Công ty mía đường B (nay là Công ty cổ phần
mía đường B) và bà Hà Thị S, sinh ngày 03/01/1970 bị vô hiệu.
- Công nhận thời gian làm việc thực tế của bà Nguyễn Thị M tại Công ty cổ
phần mía đường B từ ngày 01/01/1999 đến ngày 28/4/20221 với thời gian đóng
bảo hiểm xã hội từ tháng 01/1999 đến hết tháng 4/2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị M khởi kiện Công ty cổ phần mía đường B yêu cầu Tuyên
bố hợp đồng lao động vô hiệu và Công nhận thời giam làm việc và đóng bảo hiểm
xã hội thực tế tại công ty. Đây là quan hệ pháp luật về “Tranh chấp hợp đồng lao
động” theo quy định khoản 5 Điều 32 BLTTDS. Do bị đơn có nơi cư trú tại xã Ea
Kar, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân Khu vực 7 - Đắk Lắk.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà
Hà Thị S, Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo
hiểm xã hội cơ sở Ea Kar có văn bản yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bảo hiểm xã
hội tỉnh Đắk Lắk đã được tống đạt văn bản hợp lệ nhưng vắng mặt lần 2 không có
lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
theo quy định của khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
-- 8 of 13 --
9
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu Tuyên vô hiệu Hợp đồng lao động được ký ngày
01/01/1999 giữa bà Hà Thị S, sinh ngày 03/01/1970 và Công ty mía đường B (nay
là Công ty cổ phần mía đường B), HĐXX nhận thấy:
Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thừa nhận Ngày
01/01/1999, bà M ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Công ty mía
đường B và lao động tại Công ty mía đường B từ ngày 01/01/1999 đến ngày đến
ngày 28/4/2021 theo Quyết định về việc nghỉ hưởng chế độ hưu trí số 152/QĐ-CT
ngày 23/04/2021. Tuy nhiên, khi ký hợp đồng lao động và tham gia chế độ bảo
hiểm xã hội cho người lao động thì bà Nguyễn Thị M lấy tên bà Hà Thị S, sinh
ngày 03/01/1970, căn cước công dân hiện tại số 042170007185. Địa chỉ: Thôn 6,
xã Ea Đar, xã Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk (nay là Thôn 6 Ea Đar, xã Ea Kar, tỉnh Đắk
Lắk).
Mặc dù trong hợp đồng lao động ký ngày 01/01/1999 giữa bà Hà Thị S và
Công ty mía đường B nhưng thực tế bà Hà Thị S không phải là người trực tiếp lao
động, làm việc và tham gia chế độ bảo hiểm xã hội tại công ty mà là bà Nguyễn
Thị M trực tiếp làm việc và tham gia chế độ bảo hiểm xã hội tại công ty từ ngày
01/01/1999 cho đến ngày nghỉ hưu 28/4/2021 theo Quyết định về việc nghỉ hưởng
chế độ hưu trí số 152/QĐ-CT ngày 23/04/2021 của Công ty cổ phần mía đường B.
Trong quá trình làm việc thực tế từ ngày 01/01/1999 cho đến ngày nhận quyết định
nghỉ hưởng hưu trí bà M không báo cho Công ty biết việc bà M lấy tên bà Hà Thị
S để ký hợp đồng lao động nên Công ty không biết việc này.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 BLTTDS, đây là những tình tiết chứng cứ đã
được các bên đương sự thừa nhận, có thật không phải chứng minh.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: Bà Nguyễn Thị M đã sử dụng bằng tốt
nghiệp phổ thông trung học của bà Hà Thị S và làm hồ sơ xin việc lấy tên Hà Thị
Sương để ký kết hợp đồng lao động không thời hạn với Công ty mía đường B (nay
là Công ty cổ phần mía đường B) vào ngày 01/01/1999.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Bộ luật lao động về nguyên tắc giao kết
hợp đồng lao động, quy định: “1. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và
trung thực.”
Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Bộ luật lao động về nghĩa vụ cung cấp
thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, quy định: “2. Người lao động phải cung
cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm
sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình
trạng sức khỏe và vấn đề liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động
mà người sử dụng lao động yêu cầu.”
Tại điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật lao động, quy định: “1. Hợp đồng lao
-- 9 of 13 --
10
động vô hiệu toàn bộ trong trường hợp sau đây:
b)Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm
nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật
này.”
Như vậy, việc bà Nguyễn Thị M sử dụng và lấy thông tin của bà Hà Thị S để
ký kết hợp đồng lao động là vi phạm nguyên tắc trung thực khi giao kết, vi phạm
nghĩa vụ cung cấp thông tin, lỗi thuộc về bà M. Theo các quy định trên thì Hợp
đồng lao động không xác định thời hạn được ký kết ngày 01/01/1999, giữa Công ty
mía đường B (nay là Công ty cổ phần mía đường B) và bà Hà Thị S, sinh ngày
03/01/1970 bị vô hiệu toàn bộ. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn tuyên bố hợp đồng
lao động này bị vô hiệu là có căn cứ, cần chấp nhận.
[2.2] Về điều kiện khởi kiện và thời hiệu khởi kiện:
Người đại diện hợp pháp của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét về điều
kiện khởi kiện phải thông qua trình tự, thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động
trước khi khởi kiện và yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện để không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và đình chỉ giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử
nhận thấy:
Như phân tích, đánh giá và kết luận ở phần trên thì Hợp đồng lao động không
thời hạn giữa Công ty cổ phần mía đường B và bà Hà Thị S bị vô hiệu.
Tại Điều 50 Bộ luật lao động quy định: “Tòa án nhân dân có quyền tuyên bố
hợp đồng lao động vô hiệu”. Điều này có nghĩa rằng chỉ có Tòa án mới có thẩm
quyền tuyên bố hợp đồng lao động bị vô hiệu.
Theo Điều 190 Bộ luật lao động về thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao
động cá nhân, không quy định về thời hiệu đối với trường hợp yêu cầu tuyên bố
hợp đồng lao động bị vô hiệu.
Tại Điều 185 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Các quy định của Bộ luật dân
sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự.”
Tại khoản 3 Điều 132 Bộ luật dân sự, quy định: “Đối với giao dịch dân sự
quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án
tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế”.
Như vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên bố hợp đồng lao
động bị vô hiệu chỉ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và không thuộc tranh
chấp lao động phải thông qua trình tự, thủ tục hòa giải của Hòa giải viên lao động
theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 188 Bộ
luật lao động. Hợp đồng lao động bị vô hiệu là do người lao động vi phạm nghĩa
vụ cung cấp thông tin, vi phạm nguyên tắc trung thực khi giao kết hợp đồng là vi
phạm điều cấm của luật theo quy định Điều 123 Bộ luật dân sự, trong khi đó Bộ
luật lao động không quy định về thời hiệu đối với trường hợp yêu cầu tuyên bố hợp
đồng lao động bị vô hiệu. Do đó, thời hiệu khởi kiện đối với quan hệ tranh chấp
này không bị hạn chế theo khoản 3 Điều 132 Bộ luật dân sự.
-- 10 of 13 --
11
Vì vậy, yêu cầu xem xét về điều kiện khởi kiện và yêu cầu áp dụng thời hiệu
khởi kiện của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ,
nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu công nhận thời gian làm việc thực tế của bà Nguyễn Thị
M tại Công ty cổ phần mía đường B từ ngày 01/01/1999 đến ngày 28/4/2021 với
thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 01/1999 đến hết tháng 4/2021, nhận thấy:
- Ngày 23/04/2021 của Công ty cổ phần mía đường B ban hành Quyết định về
việc nghỉ hưởng chế độ hưu trí số 152/QĐ-CT đối với bà Nguyễn Thị M. Các bên
đương sự đều xác định: Bà M đã tham gia BHXH từ tháng 01/1999 đến tháng
04/2021 là 22 năm 4 tháng, đã hưởng chế độ hưu từ tháng 05/2021.
Từ sự phân tích nêu trên và tại mục [2.1] có đủ căn cứ xác định: Mặc dù hợp
đồng lao động không thời hạn mang tên bà Hà Thị S nhưng người làm việc thực tế
tại Công ty cổ phần mía đường B từ ngày 01/01/1999 đến ngày 28/4/2021 là bà
Nguyễn Thị M và đã đóng bảo hiểm xã hội theo hợp đồng lao động từ tháng
01/1999 đến hết tháng 4/2021.
Tại điểm c khoản 2 Điều 10
Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao
động về điều kiện lao động và quan hệ lao động: “Thời gian người lao động làm
việc theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu được tính là thời gian làm việc
của người lao động cho người sử dụng lao động để làm căn cứ thực hiện chế độ
theo quy định của pháp luật lao động.”
Do đó, xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[2.4] Đối với việc Bảo hiểm cơ sở Ea Kar có ý kiến đề nghị Tòa án tuyên thu
hồi tiền chế độ hưu trí hưởng sai từ tháng 8/2024 đến tháng 4/2025 với số tiền
103.397.700 đồng của bà Nguyễn Thị M để trả lại quỹ bảo hiểm xã hội theo quy
định. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị M cho rằng bà M chỉ hưởng chế độ hưu trí từ
tháng 05/2021 đến tháng 6/2024. Còn từ tháng 07/2024 đến tháng 4/2025 bà M
không được chi trả chế độ hưu trí nên việc Bảo hiểm xã hội cơ sở Ea Kar yêu cầu
bà M phải trả tiền chế độ hưu trí hưởng sai từ tháng 8/2024 đến tháng 4/2025 với
số tiền 103.397.700 đồng là không có căn cứ nên bà M không chấp nhận. Đồng
thời, Bảo hiểm xã hội cơ sở Ea Kar không làm đơn yêu cầu độc lập để yêu cầu
Tòa án giải quyết về yêu cầu này nên Tòa án không có căn cứ để giải quyết. Tòa án
sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi Bảo hiểm xã hội cơ sở Ea Kar có đơn yêu cầu.
[3] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về
việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là 300.000đồng và án phí dân sự sơ thẩm
về việc công nhận thời gian lao động và tham gia bảo hiểm thực tế là 300.000
đồng, HĐXX cần ghi nhận.
-- 11 of 13 --
12
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 32, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều
227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123, khoản 3