CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 26 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – An
2
dân xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 19/9/2017. Trong quá trình chung
sống chị và anh M có 01 người con chung tên Trần Cát Vũ Hàn V, sinh ngày
02/10/2017, hiện cháu V đang sống cùng chị T. Về tài sản chung và nợ chung
thì không có.
Chị T xác nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng
đến năm 2020 thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn với nhau, lý do vợ chồng bất
đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, tính tình không hợp nhau, anh M
không chịu đi làm chỉ ở nhà chơi game, không lo kinh tế cho cuộc sống gia đình,
không quan tâm chăm sóc vợ con, hai người không có tiếng nói chung dẫn đến
phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng.
Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân
không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết như sau:
Về hôn nhân: Xin được ly hôn cùng anh Trần Xuân M.
Về việc nuôi con chung: Chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi
dưỡng cháu V cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh M cấp dưỡng
nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Xuân M: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh M nhưng anh M vẫn cố tình vắng mặt tại
Toà, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh M đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa anh Trần Xuân M vắng mặt.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký:
Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn
bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Trịnh Thị Việt T đối với bị đơn
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.