CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc38/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
2
Khoảng 18 giờ ngày 07/01/2026, bị cáo Lò Văn T đi bộ một mình từ quán
ăn của gia đình bị cáo thuê tại tổ dân phố T, xã T, tỉnh Điện Biên đến tổ dân phố
Q, xã T, tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến đầu cầu T, xã T,
bị cáo gặp một người phụ nữ dân tộc T2 khoảng 30 tuổi (không biết lý lịch, địa
chỉ). Qua trao đổi, bị cáo mua được của người phụ nữ này 01 gói ma túy được
gói bằng nilon màu hồng bên trong có 08 viên nén màu hồng, trên một mặt mỗi
viên nén có ký hiệu “WY” với tổng số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng), mua được ma túy bị cáo cất giấu gói ma túy vào trong túi áo khoác bên
trái đang mặc đi về quán. Hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày khi bị cáo Lò Văn T về
gần đến trước cửa quán ăn ở tổ dân phố T, xã T thì bị tổ công tác Công an xã T
phát hiện, bắt quả tang thu giữ trong túi áo khoác bên trái đang mặc của bị cáo
01 gói nilon màu hồng bên trong có 08 viên nén màu hồng Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,91 gam Methamphetamine gửi
toàn bộ giám định. H lại mẫu vật sau giám định gồm: 0,77 gam
Methamphetamine và 01 mảnh nilon màu hồng.
Tại bản Kết luận giám định số: 41/KL-KTHS ngày 13/01/2026 của Phòng
K, Công an tỉnh Đ kết luận: “Vật chứng gửi giám định thu giữ của Lò Văn T có
khối lượng 0,91 gam là chất ma tuý: Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKSKV3 ngày 07 tháng 04 năm 2026 của
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Điện Biên đã truy tố: Bị cáo Lò Văn T về
tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật
Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm
tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố
đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249,
điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung
năm 2025. Xử phạt bị cáo từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 05 tháng tù và không
phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025. Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.