CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcQĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
2
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ
đó, chị T có đơn khởi kiện và có yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với
anh T1.
- Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là Trần Nguyễn Đức H,
sinh ngày 21/09/2023. Hiện con chung đang sống chung với chị T, khi ly hôn chị
có yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T1 phải thực hiện nghĩa vụ
cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu xem xét giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét
xử vắng mặt.
Đối với bị đơn là anh Trần Tấn T1 sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã có
Thông báo hợp lệ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải, đồng thời mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng anh T1 đều
vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của chị
T.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án:
thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị T
thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật
Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Bị đơn anh T1 chưa thực
hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố
tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan.
- Về nội dung:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a
khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.