Mục lục - 22 điều ▼
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 2. Đối tượng áp dụng Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với nước ngoài.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Tương trợ tư pháp về hình sự là việc Việt Nam và nước ngoài, thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hỗ trợ nhau trong việc thực hiện các hoạt động xác minh, điều tra, thu thập chứng cứ hoặc thực hiện các hoạt động khác nhằm phục vụ giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án. 2. Nước yêu cầu là nước gửi yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự để nước được yêu cầu xem xét hỗ trợ thực hiện. 3. Nước được yêu cầu là nước được đề nghị thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự. 4. Cơ quan lập yêu cầu là cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đề nghị nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự để giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, thi hành án. 5. Cơ quan thực hiện yêu cầu là cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật được giao thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự ở Việt Nam và nước ngoài.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 4. Áp dụng pháp luật 1. Tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện theo quy định của Luật này; trường hợp Luật này không quy định thì áp dụng quy định của pháp luật về tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan. 2. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài chỉ được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 5. Nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự 1. Tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 2. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự thì việc tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 6. Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự 1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự. 2. Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tương trợ tư pháp về hình sự có trách nhiệm làm đầu mối trao đổi thông tin, tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự; từ chối hoặc hoãn thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự theo thẩm quyền; phối hợp với các cơ quan có liên quan xem xét, giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự; đề xuất việc ký kết, gia nhập, thực hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 7. Áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong tương trợ tư pháp về hình sự 1. Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tiếp nhận, xử lý yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài và việc gửi yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam theo nguyên tắc có đi có lại. 2. Trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao và các cơ quan có liên quan trước khi quyết định.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 8. Ngôn ngữ trong hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự 1. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự thì ngôn ngữ trong hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự là ngôn ngữ được quy định trong điều ước quốc tế. 2. Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự thì hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu hoặc ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp nhận. 3. Cơ quan lập yêu cầu của Việt Nam phải dịch các văn bản, tài liệu quy định tại khoản 1
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 19. của Luật này ra ngôn ngữ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 35. và khoản 1
Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 37. của Luật này; c) Người đó không phải cung cấp chứng cứ hoặc hỗ trợ bất kỳ hoạt động điều tra hình sự nào ngoài phạm vi đã được nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp, nếu người đó không đồng ý. 2. Người không đồng ý sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ thì không phải chịu bất kỳ hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế nào. 3. Người đồng ý sang nước yêu cầu để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về lời khai của họ, trừ việc họ khai báo gian dối. 4. Quyền không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị bắt giữ, bị hạn chế tự do quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này chấm dứt nếu người đó không rời khỏi nước yêu cầu sau thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu về việc không cần người đó có mặt tại lãnh thổ nước này. Thời hạn này không tính thời gian mà người đó không thể rời khỏi nước yêu cầu vì lý do bất khả kháng.
Chương III YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ CỦA NƯỚC NGOÀI
Điều 37. của Luật này sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ. Khi xét thấy cần thiết, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tiếp tục áp dụng biện pháp hạn chế tự do đối với người đó. 2. Sau khi xem xét các điều kiện mà cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cam kết bằng văn bản theo quy định tại
Chương III YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ CỦA NƯỚC NGOÀI
Điều 37. Chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam sang nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ 1. Người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có thể được chuyển giao tạm thời cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ tại nước ngoài. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tiếp tục giam giữ người bị chuyển giao tạm thời. 2. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chỉ chuyển giao tạm thời người đang bị tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều này khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: a) Người đó đồng ý với việc chuyển giao tạm thời để hỗ trợ điều tra, cung cấp chứng cứ tại nước ngoài; b) Có cam kết bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc bảo đảm an toàn theo quy định tại
Chương III YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ CỦA NƯỚC NGOÀI
Điều 38. Xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự 1. Khi nhận được hồ sơ yêu cầu của nước ngoài về việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài đang có mặt tại Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và xử lý như sau: a) Chuyển cho Cơ quan điều tra Bộ Công an hoặc Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng để tiến hành điều tra theo thẩm quyền; b) Chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nơi người bị đề nghị tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự cư trú cuối cùng trước khi ra nước ngoài hoặc Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thẩm quyền để tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để chuyển cho Cơ quan điều tra cùng cấp tiến hành điều tra theo thẩm quyền. 2. Việc điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam. 3. Trong quá trình xử lý yêu cầu của nước ngoài về việc tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu cần có thêm thông tin, tài liệu từ nước ngoài, cơ quan thực hiện yêu cầu có văn bản gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao để đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu.
Chương III YÊU CẦU TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ CỦA NƯỚC NGOÀI
Điều 39. Kết thúc việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự 1. Việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự kết thúc trong các trường hợp sau đây: a) Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo kết quả thực hiện cho nước yêu cầu; b) Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho nước yêu cầu việc không thực hiện được yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự; c) Nước yêu cầu thông báo kết thúc việc yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. 2. Trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thông báo cho cơ quan thực hiện yêu cầu để kết thúc việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.
Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 40. Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15 như sau: a) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1
Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 148. như sau: “a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả; đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;”; b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3
Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 148. như sau: “3. Trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.”; c) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1
Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 229. như sau: “c) Khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;”; d) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1
Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 247. như sau: “c) Khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn quyết định việc truy tố. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;”; đ) Sửa đổi, bổ sung khoản 1
Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 443. như sau: “1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.”; e) Thay thế cụm từ “Luật Tương trợ tư pháp” bằng cụm từ “Luật Tương trợ tư pháp về hình sự” tại điểm c khoản 3 Điều 185; g) Bổ sung cụm từ “người đang bị tạm giam,” vào sau cụm từ “người giám định,” tại
Chương IV ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH