3. Tổ chức nước ngoài tại Việt Nam là cơ
quan, tổ chức nước ngoài được cấp có thẩm quyền
của Việt Nam cho phép hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam, bao gồm:
a) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan
lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện các tổ chức
quốc tế thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các tổ chức
khu vực, tiểu khu vực;
b) Văn phòng thường trú cơ quan thông tấn,
báo chí, phát thanh và truyền hình nước ngoài;
c) Tổ chức quốc tế, tổ chức liên Chính phủ,
tổ chức thuộc Chính phủ nước ngoài;
d) Tổ chức phi chính phủ nước ngoài được
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy đăng
ký theo quy định của pháp luật;
đ) Văn phòng đại diện tại Việt Nam của tổ
1. Người lao động Việt Nam là công dân Việt Nam
làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài.
2. Tổ chức nước ngoài tại Việt Nam là cơ quan, tổ
chức nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam cho phép hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam, gồm:
a) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự
nước ngoài, cơ quan đại diện các tổ chức quốc tế
thuộc hệ thống Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế liên
Chính phủ, các tổ chức khu vực, tiểu khu vực;
b) Văn phòng đại diện tổ chức thuộc Chính phủ
nước ngoài;
c) Văn phòng thường trú cơ quan thông tấn, báo
chí, phát thanh và truyền hình nước ngoài;
d) Tổ chức phi Chính phủ nước ngoài được cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy đăng ký theo
quy định của pháp luật Việt Nam;
Khoản 1: Chuyển người lao động Việt Nam lên
thành đối tượng áp dụng đầu tiên. Bổ sung “là công
dân Việt Nam” để làm rõ thêm đối tượng người
Việt Nam.
- Nhấn mạnh đối tượng áp dụng chính ở Nghị định
là người lao động Việt Nam là công dân Việt Nam
làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt
Nam, nhằm đảm bảo cân bằng giữa quyền lợi,
trách nhiệm của người lao động Việt Nam và lợi
ích, an ninh quốc gia.
Khoản 2: Liệt kê tên các nhóm tổ chức nước ngoài
Khoản 2 điểm a: Chuyển “tổ chức quốc tế liên
chính phủ” lên điểm a;
Khoản 2 điểm b: Chuyển nhóm “tổ chức thuộc
Chính phủ” lên, bổ sung “Văn phòng đại diện”.
-- 2 of 21 --
3
Nghị định 152/2020/NĐ-CP (phần người lao
động Việt Nam) được sửa đổi bổ sung tại
Nghị
định 70/2023/NĐ-CP
Dự thảo Nghị định quy định về tuyển dụng,
quản lý người lao động Việt Nam làm việc
cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam
Thuyết minh
chức nước ngoài hoạt động trong các lĩnh vực: kinh
tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,
khoa học - kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, y tế, tư vấn
pháp luật nước ngoài.
4. Cá nhân nước ngoài tại Việt Nam là
người nước ngoài làm việc tại tổ chức quy định tại
khoản 3 Điều này hoặc người được cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt
Nam.
5. Người lao động Việt Nam làm việc cho
tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.
6. Tổ chức dịch vụ việc làm và doanh
nghiệp cho thuê lại lao động cung cấp dịch vụ cho
tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam liên quan
đến tuyển dụng, giới thiệu, quản lý người lao động
Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài
tại Việt Nam.
3. Cá nhân nước ngoài tại Việt Nam là người nước
ngoài làm việc tại các tổ chức quy định tại khoản 2
Điều này.
4. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý người
lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân
nước ngoài.
5. Doanh nghiệp cho thuê lại lao động liên quan đến
người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá
nhân nước ngoài tại Việt Nam.
Khoản 3: Thu hẹp đối tượng cá nhân nước ngoài
tại Việt Nam để tập trung quản lý đúng đối tượng
người Việt Nam làm việc cho đối tượng người
nước ngoài này.
Khoản 4: Bổ sung để quy định đầy đủ toàn bộ các
đối tượng áp dụng Nghị định này.
- Bổ sung đối tượng áp dụng rất quan trọng là các
cơ quan, tổ chức Việt Nam có thẩm quyền quản lý
người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá
nhân nước ngoài tại Việt Nam (cơ quan, tổ chức
quản lý) để quy định đầy đủ toàn bộ các đối tượng
áp dụng của Nghị định này (mà trước kia đã không
được đề cập tại
Nghị định số 152/2020/NĐ-CP do
bỏ sót và không kế thừa từ
Nghị định số
75/2014/NĐ-CP đã hết hiệu lực).
Khoản 5: Thu hẹp đối tượng áp dụng, không còn
“tổ chức dịch vụ việc làm” vì đã được quy định
riêng tại Luật Việc làm, chỉ còn “doanh nghiệp cho
thuê lại lao động” được quy định tại Điều 53 Bộ
luật Lao động năm 2019.